TỪ NHÀ TRƯỜNG RA BIÊN GIỚI;
Trích
Nguyên văn đoạn mở đầu Hồi ký của Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu tướng
-- C213 – khóa 1 học viện kthuật Quân sự V.N __ “TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG BIÊN GIỚI “
\\\\\\\\”
Tháng
2/1979 chiến tranh biên giới nổ ra . Tôi đang giảng dạy ở trường ĐHKT Quân sự
thì nhận được lệnh điều lên QĐ5 . Đó là một bước ngoặt trong cuộc đời . Tôi
chưa bao giờ nghĩ rằng tôi lại xa rời nghề thầy giáo , xa rời môn học Nguyên lý
máy mà tôi đã gắn bó với nó 6 năm liền .
. Thật ra trong những năm còn là sinh viên tôi
đã từng là tổng cán sự , tôi lên lớp phụ
đạo rất nhiều lần cho các học viên cùng lớp nhiều môn học khác nhau tôi được rèn luyện kỹ năng sư phạm từ khi còn
là sinh viên . , đến khi làm thầy giáo ,mới lên lớp giảng bài cho vài khóa đầu
tiên , các học viên đã nói với tôi rằng :” Anh sinh ra là để làm thầy giáo .”
Cái
nghề thầy giáo tưởng như đã gắn liền với tôi . Nhưng cuộc đời là như thế ,
không ai có thể tự quyết định số phận của mình
Trước
đó ,không lâu , có một lần vào phòng thí nghiệm cơ .học ,
, Anh Phát trong bộ môn , người phụ trách
phòng thí nghiệm nói với tôi rằng :” Ông
học giỏi và dạy cũng giỏi , nhưng
hình như con đường học vấn của ông cũng không lâu dài .”
Lúc
ấy tôi không tin , tôi nghĩ ông này chỉ nói vớ vẩn . Thế mà bây giờ nó đã trở
thành sự thật .
>.”…February 5, 2015
Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ Chúng trong cuộc gặp thường niên
C213 4 January 2015
Cựu Trưởng khoa và các Cựu giảng viên , Học viên C213 ( Trưởng khoa Lê Phương Cảo Người cạnh
Nữ Quân y Đại đội 213 )
Nguyên cựu tổ trưởng bộ môn Sức bền
Nguyễn Khoa
Thịnh __ Giảng viên hướng dẫn học và Nghiên cứu trên Đại học __ 1968 ( Trung
Tướng )
Và Cựu Giảng viên Vũ Quốc Hùng __(Bí thư TW Đảng ) *
**********
* *
Vậy đấy .
Tôi đọc những trang đầu cuốn Hồi ký của
Tướng Nghiêm Sỹ Chúng đưa cho khi cuộc gặp mặt thường niên 2015 vào hồi cuối .
Nghĩ
suy một hồi lâu , thì ra mỗi người mỗi con đường mỗi ngả trên con đường binh
nghiệp sau khi tốt nghiệp khóa 1 trường Đại học kỹ thuật quân sự với quân hàm
thiếu úy và học vị __ Kỹ sư quân sự .
Chúng tôi đều là những học viên xuất sắc trong học tập và rèn luyện nên
thường đều là cán sự phụ đạo thêm các bài giảng sau giờ lên lớp về tự học và
nắm vững bài .
Một
tốp chúng tôi ngay trong những năm đầu và tiếp sang năm thứ 2 của Khoa học Cơ
bản , nhà trường và khoa trang bị cơ điện đã có ý định tuyển chọn ở lại trường làm giảng viên các
môn kỹ thuật cơ sở mà nhà trường và khoa còn trống vắng , sự tuyển chọn cũng
theo cách thức bấy giờ đối với các trường đại học trong Bộ Đại học và Trung học
chuyên nghiệp
Trong thời buổi chiến tranh ấy , thời buổi mà khoa học kỹ thuật của Việt
Nam , nhất là kỹ thuật quân sự còn non
kém thì ngoài nhà trường đại học là môi trường thả sức phát huy nghiên cứu ứng
dụng mà trong nhà trường chỉ thuần túy là giảng dạy theo giáo trình , dù có tự
mình biên soạn ra cũng chỉ mang tính chất chọn lọc và dịch từ Giaos trình Tiếng
NGA sẵn có ; cho nên không mấy ai muốn ở lại trên bục giảng đường đại học , hầu
hết đều muốn cất cánh đại bàng tung bay trên các nẻo đường của Tổ quốc mà mình
hằng mến yêu , dấn thân vào chinh chiến .
Trong số tổ trưởng bộ môn Sức bền vật liệu của khoa _+__ Anh Nguyễn
Khoa Thịnh chọn cho học và nghiên cứu sau năm thứ 2 có tôi , Lê Kinh tuyến ,
Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Minh Châu , Lê Công Sơn , Nguyễn Đình Năng , thì chỉ
có Nguyễn Đình Thắng và Nguyễn Minh Châu Ngành Ô-tô – Tăng –xích ở lại làm
giảng viên và rồi đi nghiên cứu Phó Tiến sỹ , ngành Nguồn Điện không có ai ở
lại ; Riêng Nghiêm Sỹ Chúng từ không quân về trường đã qua năm thứ nhất đại học
tổng hợp nên nổi trộ hơn chúng tôi ở những năm đầu cơ bản và xuất sắc nhất cũng
được giữ lại làm giảng viên .
Thời
gian trôi đi , tôi về Cục Vật Tư Tổng cục Kỹ thuật mà con dấu vẫn chưa đổi từ
Tổng cục Hậu cần sang Tổng cục Kỹ Thuật . vẫn còn là Cục Vật tư –Nhiên liệu .;
bấy giờ vừa tách ra thành Cục Vật Tư và Cục Xăng-Dầu . Đồng đội hầu hết về các đơn vị chiến đấu , xí
nghiệp quốc phòng và từng tốp , lần lượt , bấy giờ gọi là “ Xẻ dọc Trường Sơn
đi cứu nước “ trên ve áo chúng tôi mới chỉ quân hàm Thiếu úy .
Chia
tay nhau không ai biết ai về đâu đi đâu , đi B dài hay B ngắn mà đôi khi gặp
thoáng qua nhau trên Đường phố Hà Nội hoặc qua đôi lần đến Cục Tôi lấy Vật
Tư mà thôi .
Mỗi
người mỗi ngả chiến trường , mỗi ngả hậu phương lớn __ Miền Bắc . Bây giờ gần
50 năm , gặp lại mới tường những thăng trầm , gian khổ vất vả trong những tháng
năm chống Mỹ thống nhất đất nước và chiến tranh vệ quốc chống quân xâm lược
Trung Hoa 1979 .
*****
Khi
Nghiêm Sỹ Chúng và Nguyễn Minh Châu rời bục giảng lên biên giới xây dựng căn cứ
Kỹ thuật cấp Quân Đoàn cho một cuộc chiến bảo vệ tổ qốc , thì những năm ấy tôi đã vừa chuyển ngành về
NamĐịnh sau 4 năm đeo quân hàm Trung úy và chưa hết thời gian bảo lưu lương và hàm sỹ quan . chiến tranh
Biên giới nổ ra tôi đưa cán bộ nhân viên
đi khám tuyển tái ngũ , một số đi dự nhiệm , còn tôi vừa chuyển ngành ,
sức đang yếu nên không dám gọi tái ngũ .
Ở
lại hậu phương Tỉnh Hà-Nam-Ninh .
Những mất mát , hy sinh trên chiến trường Biên
giới phía Bắc với quân đội Trung quốc đã
tỏ ra là mối đại họa cho tồn vong của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam .
Kinh
tế của toàn quốc chưa được phục hồi là mấy mà khó khăn chồng chất , không ai
hiểu vì sao khổ đến thế , họa xâm lăng lại đến sau dăm ba năm hòa bình . Cả
miền Bắc lại đi vào xây dựng Căn Cứ , cơ sở sơ tán chống Trung quốc khi khả
năng Địa phương bị chiếm đóng . .
Tỉnh
ủy và ban tổ chức tỉnh không giao cho tôi một chức vụ nào , nhưng tôi vẫn có
nhiệm vụ như một phó trưởng ban Khoa học Kỹ thuật , thành lập đơn vị Tự Vệ gồm
Ủy ban +Hội Văn Học Nghệ thuật Hà nam ninh với quyết định của Thành Đội Trưởng
: Tôi là Trung Đội Trưởng và Trưởng ban làm Chính trị Viên ( Vì quân số chỉ đủ
lập thành Trung đội Tự vệ ) .
Trong chiến tranh phá hoại miền bắc của Mỹ Nhiều cơ quan của tỉnh bị
trúng bom , trong đóUỷ ban Khoa học và Hội Văn Học Cũng bị bom trúng hầm ,
tửvong tại chỗ nhiều cán bộ kỹ sư , hòa bình quay về tôi đã thay mặt cơ quan
cùng đồng nghiệp thăm hỏi gia đình thương binh liệtsỹ và người đã mất trong
chiến tranh .
Sau đợt Gọi Tái ngũ của Tỉnh là đến
Công An Tỉnh lo Sắp xếp Địa điểm sơ tán cho từng Cơ quan của Tỉnh
trênĐịa bàn thành phố .
Ủy
ban Khoa học và Kỹ Thuật là một ban chức năng của Ủy ban nhân dân tỉnh và Tỉnh
ủy Hà –Nam- Ninh cũng được Ty công An lo xếp nơi sơ tán theo 2 phương án hợp
theo mức độ chiếm đóng của quân xâm lược Trung Quốc .
Ngay từ khi về Ủy ban Khoa học Tôi đã phải đảm nhiệm Phụ trách phòng
Tổng hợp Khoa học và Bên Công An lấy hồ sơ bí mật bảo vệ an ninh kinh tế và chính trị chính trị với tư
cách một sỹ quan Trung cấp ; bởi thế như mặc định một phó trưởng Ban , Tôi được
yêu cầu và cử sang Ty Công an để nhận địa điểm sơ tán _ Phương án 1 .
Trong phòng làm việc của Ty Công An chỉ định
cho tôi một địa điểm thuộc xã lân cận Thành phố và chỉ có cơ quan mình ở đó ,
không ai có thể biết khi chưa sơ tán .
Nhiệm vụ của tôi là : Liên hệ và thương
lượng với nhân dân trong xã và Chính quyền Xã để Bảo đảm cho Cơ quan lánh nạn
và làm việc nếu Thành phố bị chiếm đóng .
Trong những năm tại ngũ , thời còn trong trường Đại học , tôi là Cán bộ
Kiêm Chức __ Trung đội Phó và có nhiều tuổi quân nên thường được Đại đội cử đi
Tiền Trạm khi chuyển quân hoặc quan hệ với nhân dân địa phương trong lúc đóng
quân đồn trú . Tôi ngỡ tưởng Nhân dân
cũng sẵn lòngvà vui vẻ nhận lời , nhường chỗ ở cho cán bộ của Cơ quan Tỉnh Sơ
tán lánh nạn . Nào ngờ : Sau hi chọn lựa từng gia đình theo cung cấp tình hình
chính trị kinh tế và đức độ của mỗi gia đình xin tạm sơ tan khi cần mà ban đầu
có nhiều nhà từ chối , chỉ đôi ba nhà
đồng ý ngay . Tôi phải giải thích nói rõ Cơ quan mình là cơ quan Khoa
học , phần lớn là Trí thức nên Bán bộ Công nhân Viên không như Người ta đã gặp
khi sơ tán thời chống mỹ ; ; đồng thời giải thích để nhân dân biết chủ trương và tình huống cùng
mối liên quan đến vận mệnh của Tỉnh nhà
.
Khi
đã lọt tai người ta đồng ý cho chúng tôi đạt bàn làm việc hoặc chỗ ăn nghỉ của
cơ quan mình .
Việc Sơ tán không chỉ là liên hệ trước , không
chỉ soát xét tài liệu cần thiết mang theo
và đóng gói gọn gàng đi được ngay khi có lệnh ; mà đến nơi sơ tán còn
cần ổn định nhanh để làm việc ; Cho nên Tôi phải vẽ Sơ đồ Nhà Xóm và đường đi
lối lại cùng với sắp xếp cho toàn Cơ quan thích hợp công việc và quản lý .
Trên
cơ sở vẽ bản đồ trú ngụ của cơ quan cụ thể và chi tiết để báo cáo trình bày trong giao ban và
thi hành khi nguy biến .
Là một tỉnh lớn ở xa Biên giới ,
lại là Cơ quan khoa học và Kỹ Thuật nên Tôi không mấy quan tâm đến chiến sự ,
bởi vốn tôi có thói quen :khi đã làm nhiệm vụ chính trị nào thì hoàn toàn toàn
tâm toàn ý đi vào chuyên môn nghiệp vụ
theo trách nhệm của mình , không bon chen , lấn sân người khác , cho nên , Khi
quân trung quốc xốc thế trận ban đầu làm ta tổn thất to lớn và Tôi lại được gọi
đi lo liệu Căn cứ Sơ tán __ Phương án 2
lùi sâu hơn vào địa phận hiểm trở
hơn an toàn hơn phương án 1 .
Ngay trong phương án 1 Tôi đã phải 2 lần về Ty công an lấy địa điểm vì
địa điểm đầu tiên gần thành phố hơn giao thông tiện hơn đã bị Liên Xã , nhanh
chân lấy trước mà Cơ quan Công An không hay , bới Liên xã nằm vòng ngoài bảo vệ
lo liệu của Công an , nên họ thính tai co cẳng chạy trước , làm tôi phải đạp xe
về Xã lần 2 xa hơn lần đâu .
Phương án 2 , chúng tôi được chỉ định sơ
tán sâu trong Huyện Nho Quan cũ qua cả Me , phà Đế Hoàng long ; Từ Quốc lộ 1A
qua Gián Khuất còn rẽ sâu vào nhiều Km và vượt qua ao lạch khó đi ,; Nếu theo
Quốc lộ 6 B cũng phải vượt qua quãng đường liên thôn như đi từ Quốc lộ 1 A . Lẽ
đương nhiên cơ quan ở sâu trong làng
giáp núi có hiểm trở hơn , an toàn hơn , nhưng việc quản lý Hoạt Động Khoa học kỹ thuật cũng khó khăn hơn và đời sống anh
chị em sẽ kham khổ hơn . Riêng chuyện đi lập căn cứ sơ tán tôi đã phải liên hệ với Ủy ban nhân dân và Huyện
ủy rồi mới xuống được xã .
Khi
đi lập căn cứ như vậy tôi đã thấy đời sống nhân dân nơi đây quá khó khăn và chênh lệch nhiều so với thị thành
. Tuy rằng Đồng Giao , Quán Cháo xưa kia
là rừng thiêng nước độc , ai sống ở đó
lâu ngày mà về thì bụng ỏng da xanh , nay không còn nữa , nhưng còn nguyên dáng hình một vùng nghèo nàn , bữa
cơm chủ yếu là khoai lang ; nhà nào trên lưng chừng nhà cũng hàng tạ khoai lang
thái lát phơi khô , đường đi quanh co ẩm thấp . Tôi đã từng xét duyệt các đề
tài về Giống Khoai Lang Hoàng Long và cho đăng tải thông tin khoa học như một
cứu cánh của nông nghiệp địa phương và toàn quốc của một thời Ông Đại Tá Từ Giấy Cho đăng tải
và ông Nói Rằng : Ngô Bổ hơn Gạo . Tuy thế cái nghèo đói của một đời khoai sắn
qua ngày se thắt lòng tôi khi nhìn vợ con chỉ hơn người bát cơm độn mỳ sợi .
Một thời gian khó một thời chiến tranh và quân xâm lăng rình rập , bước chân
người sỹ quan kỹ thuật trên mọi miền tổ quốc không có gian khổ khó khăn
nào giống nhau , chỉ có một điều giống nhau từ cùng một cái nôi Đại học Kỹ
Thuật Quân Sự là : không chùn bước trước khó khăn , không sợ hy sinh gian khổ ,
sống học tập và chiến đấu trên mặt trận não cũng kiên trì dũng cảm và bằng trí
tuệ , sức lực của chính bản thân mình không đòi hỏi địa vị cao sang , vật chất
no đầy .
Cuộc chiến vệ quốc chống Trung Quốc xâm lược dần dần đi vào quá khứ một
cách tiệm tiến và chiến tranh phai nhạt
dần cho tới một thời kinh tế vẫn ngày càng khó khăn cuộc sống đời dân sự của
gia đình vợ con tôi vẫn một màu áo lính mà sỹ quan quân đội cũng bị bạc đãi khi
cài thiển cận như một kính râm che khuất măt người chỉ nhìn thấy rõ khi địa vị
đời sống tòa ra phát ra màu hào quang .
Cuộc
sống còn trong thời sung sức nhưng gian truân còn tăng gấp bội .
…
Tôi
sẽ viết tiếp trong những trang sau ./
Thank you,
Thursday, February 5, 2015
Mời
Các bạn và
Độc giả Đọc Thêm :
Nguyễn Thnh Sơn Con trai Ông Nguyễn Tạo Gửi cho tôi Hồi Kỹ
của Ông Tọ khi còn sống đã kể lị và Nhf văn nhà báo KIM DUNG đx ghi lị . Dưới
đây là Nguyên Văn .
Nguyễn Thanh Sơn ( Người đội mũ )
Trong ảnh
:Trên Sân Nhà Bảo Tàng P K K Q V N
Ảnh Lê Kinh Tuyến
Vài phút nhớ về Nguyễn Khánh Tiệp C213 __ trong ngày gặp mặt thường niên 4January2015 ( Ng: Khánh Tệp đã mất ___
Con trai Ông Nguyễn Khánh Toàn )
(Một Đường phố Hà nội mang tên Ông Nguyễn
Khánh Toàn )
(
Hồi ký của Ông Nguyễn Tạo xin xem những trang sau trong tập này )
Truyện Hồi
Ký của Đỗ
Thành Hưng
“SỸ QUAN
BINH NHÌ"
* Trang 1 / 14
PHÍ LÀM QUEN.
Vào học
năm thứ ba, đại đội 213 chúng tôi về đóng quân ở xã Văn Tiến, huyện Yên Lạc.
Tôi đang ở độ tuổi hai mươi, cái tuổi đã thích yêu và muốn được yêu nhưng còn
nhút nhát lắm. Vả lại cũng sĩ sĩ vì mùa đông có giày đen, áo bốn túi, nhìn
ngoài ra dáng sỹ quan thứ thiệt, lại đang học đại học, đâu dễ gì ai cũng làm
quen được! Thời đó, tôi cũng ý thức được rằng sinh viên đại học Kỹ thuật quân
sự bọn tôi đắt giá lắm bởi "trai thời loạn", mà "gái khôn tìm
chồng giữa chốn ba quân"! Nên cũng có chút kiêu kiêu với các em! Tôi và
Ngô Gia Hồi không phải là bạn thân vì khác lớp nhưng cùng lứa với nhau. Tôi
biết Hồi có người yêu tên Phương, học năm thứ nhất đại học Bưu điện, cách xã
Văn Tiến chừng 5-7km, nhưng tôi chưa có dịp được gặp người yêu của Hồi.
Vào một
sáng chủ nhật đầu đông se lạnh, buồn buồn tôi đạp xe đi lòng vòng tận hưởng cái
khí lạnh đầu mùa. Thấy hai cô gái đèo (chở) nhau trên chiếc xe đạp đi từ hướng
trường Bưu điện về phía huyện, tôi quay xe theo hướng hai cô. Một mình một xe,
lại ở tuổi "bẻ gãy sừng trâu”, chỉ vài phút tôi đã
đuổi
kịp. Liếc nhìn nhanh và thấy cô ngồi sau xinh xinh, có một nốt ruồi to bên má
rất duyên... Nhưng "sỹ quan" phải đứng đắn! “đâu dễ làm quen”. Tôi
lạnh lùng vượt lên trước, chừng hai, ba trăm mét lại thấy tiêng tiếc... Tới một
ngã ba tôi dừng lại, vẫn ngồi trên xe, tay vịn cây phi lao ven đường và quay
đầu lại nhìn phía sau như dáng chờ ai. Khi hai em gần tới, tôi kéo tay áo bốn
túi xem giờ, như khoe khéo với các em “anh có áo bốn túi, có cả đồng hồ polzot
đây này!”, rồi nghĩ cách bắt chuyện làm quen. Giả bộ không biết đường tôi hỏi:
- Đi
thẳng có phải đường về huyện không cô ơi!
- Dạ
phải, anh cứ đi theo bọn em!
“Được
lời như cởi tấm lòng”, tôi vội đạp xe theo hai em, có cớ đi cùng mà không sợ
các em cười anh "sỹ quan" này sỗ sàng quá! Không dám nhận là thổ địa,
nhưng đường ở huyện này tôi thuộc như lòng bàn tay, hỏi đường chỉ là kiếm cớ.
- Đây về
huyện còn xa không cô?
- Dạ
chừng 5-6 cây số thôi anh!
Trang 2 / 14
2
Thấy hai
em vui vẻ bắt chuyện, tôi tỏ ra ga lăng và hào hiệp, rồi chuyển sang xưng hô
ngọt lịm:
- Còn
xa, em sang tôi đèo cho một quãng!
Các em
đồng ý ngay. Thế là em xinh xinh ngồi phía sau sang xe tôi. “Mục tiêu đã vào
điểm ngắm!”. Lần đầu tiên được đèo người đẹp đi chơi vào ngày chủ nhật giữa
tiết trời se lạnh, chú lính binh nhì thấy phấn chấn lạ thường!
Đạp xe
đèo em mà thấy nhẹ tênh, nhẹ hơn đi một mình mới lạ chứ! Một cảm giác lâng lâng
như ngồi trên gió, trên mây!
Rồi sự
thân mật lại gần, tôi biết em tên Hảo, cô bạn tên Lan, học năm thứ nhất trường
đại học Bưu điện, tôi liền nói dối tỉnh bơ:
- Anh
cũng có em gái họ tên Phương học năm thứ nhất trường Bưu điện, người yêu của nó
là Ngô Gia Hồi.
Tôi nói
rõ như vậy để các em biết Phương nào nếu khóa của các em có nhiều Phương, vì
tôi không biết họ tên đầy đủ của Phương. Cũng là để tăng sự tin tưởng cho các
em ở lời nói dối của mình. Hảo nói như reo lên:
- A. Thế
ạ! Chị Phương học lớp em. Chị ấy nói người yêu là anh Hồi đang học ở đại học Kỹ
thuật quân sự, đóng quân ở gần đâu đây. Nghe Hảo nói, tôi thấy vui vui. Vậy là
các em đã tin sái cổ tôi là anh họ của Phương rồi!
Tôi
không dám nhận là bạn học của Hồi vì như vậy em sẽ phát hiện đơn vị tôi ở quanh
đây, việc hỏi đường ban nãy là giả vờ trắng trợn! Rồi suy ra tôi nhận bừa chứ
không phải anh họ của Phương nếu tôi cùng học với Hồi. Thế rồi tôi cố ý đạp xe
nhanh hơn để em và tôi tách hẳn với người bạn cùng đi, tạo cơ hội nói chuyện
riêng. Không nhớ hồi đó tôi tán những gì mà có lúc em cười như nắc nẻ. Có vài
lần em phải tì nhẹ vào lưng tôi để ngồi cho vững! Tay lái của tôi sáng nay sao
tệ quá, cứ thấy ổ gà là không tránh được! Đã mấy lần làm em chao đảo, phải ôm
nhẹ eo tôi! Chưa hết những điều muốn tìm hiểu về em thì đã tới huyện rồi. Năm,
sáu cây số sao hôm nay ngắn quá! Hảo nói tôi đi chậm lại chờ người bạn đi cùng.
Qua cửa
hàng ăn, hai em rủ tôi vào ăn tạm cái gì đã. Chết cha rồi! Bảy cái túi "sỹ
quan" của tôi (bốn túi áo, ba túi quần) chỉ có năm hào bạc-tiền phòng hờ
vá xe đạp, lấy gì đãi hai em? Dù là bát phở bốn hào hay bánh rán một hào ba
cái. Tôi nhanh trí nói dối để đánh bài chuồn!
- Ấy
chết! Anh có cuộc hẹn làm việc với huyện đội mất rồi!
Trang 3 / 14
3
Tôi lại
kéo tay áo "khoe đồng hồ":
- Anh
chỉ còn mười phút thôi, các em cứ vào trước, xong việc anh ra ngay!
- Ơ, hôm
nay là chủ nhật cơ mà anh? - Lan nói có vẻ nài nỉ.
- Thời
chiến, bộ đội bọn anh đâu có chủ nhật như các em!
Nói xong
tôi chào hai em, rồi "sỹ quan" lủi mất! Đạp xe loanh quanh ở huyện
đội chừng mười lăm phút, lại thấy tiêng tiếc, bụng bảo dạ "không thể bỏ lỡ
thời cơ!", tôi liền quay lại cửa hàng ăn. Thấy hai em đang ngồi ăn phở,
tôi đi lại chào hai em và ngồi xuống ghế. Tôi bịa ra người cần làm việc với tôi
bận, hẹn nửa giờ nữa mới về.
- Anh ăn
phở nhé! - Em Hảo xinh xinh nói và định đứng lên.
Tôi
nghĩ: "Chắc em trả công đã đèo em 5-6 cây số đây, nhưng ai lại để cho em
đãi mình, phải ga-lăng chứ!". Tôi liền nói:
- Anh ăn
sáng rồi, để anh xem có món gì ngon nhất đãi hai em nhé!
Ấy là
nói cho sang, chứ chả lẽ nói thật: Sáng anh đã ăn cục mì luộc, nhân mọt ở nhà
bếp rồi thì ngượng chết!
Nói rồi
tôi ra quầy, đứng khuất sau quầy hàng, sờ hết túi áo rồi túi quần, mãi mới tìm
thấy tờ năm hào. Tôi hào phóng mua liền chín cái bánh rán mất ba hào mang lại
mời các em cùng ăn, còn hai hào để phòng vá xe vậy!
Gọi là
bánh rán cho oai, chứ chỉ là bột mỳ rán, không có nhân, mỗi cái to bằng trôn
bát ăn cơm! Thời đó ở cửa hàng ăn, mua cái gì là "tiền trao cháo múc"
và tự phục vụ nên tôi biết hai bát phở của hai em ăn, các em đã trả tiền rồi.
Đi ngoài đường đã nhìn thấy cái bảng đen thực đơn của cửa hàng với dòng chữ
nguệch ngoạc bằng phấn trắng to tướng trước cửa:
"Có:
Phở-bốn
hào,
Bánh
rán-một hào ba cái."
Cửa hàng
cũng chỉ có hai thứ đó nên tôi mới dám mạnh mồm "xin đãi" hai em món
ngon nhất!
Vừa ăn,
tôi vừa tìm hiểu tiếp lý lịch trích ngang của hai em. Hai em nhà ở Văn Điển,
cùng học cấp ba trường Việt Ba (trường PT Việt Nam Ba Lan hữu nghị)
Trang 4 / 14
4
Ăn đến
cái bánh thứ hai thì một anh thanh niên khá lịch lãm xuất hiện. Em Lan nói như
reo:
- Anh
Hiền! Anh ra đón bọn em hả?
Anh ta
cười rất tươi, gật đầu. Thấy tôi ngồi cùng bàn với hai em, nụ cười tươi trên
đôi môi anh ta vụt tắt. Đôi mắt nhìn tôi như muốn hỏi: "Mày là thằng nào
vậy?"
Lan vui
vẻ giới thiệu với tôi:
- Đây là
anh Hiền! Anh trai em, phụ trách Bưu điện huyện, là người...!
Lan bỏ
lửng, liếc nhìn Hảo và giấu nụ cười... tế nhị... Hảo có vẻ bẽn lẽn nhìn tôi.
Thấy em gái xởi lởi, nét mặt anh ta tươi trở lại.
Lan
không giới thiệu tôi với anh của Lan, chắc Lan không quen nói dối như tôi, vả
lại có Hảo ngồi đây, nói dối làm sao được! Chẳng lẽ Lan lại nói thật:
-
"Con bò lạc" dễ thương này em vừa bắt được ở dọc đường!
Lan
không giới thiệu tôi với anh của Lan là phải, để anh ta tự hiểu...
Tôi thất
vọng và hơi ngường ngượng... Một làn gió lạnh đầu mùa phả qua mặt làm tôi chợt
tỉnh. Tôi bắt tay anh ta và nói vài câu xã giao cho phải
phép. Bỏ
giở chiếc bánh đang ăn, tôi viện lý do phải đi làm việc và chào ba người rồi
đứng dậy. Lan nhìn tôi ánh mắt như muốn nói điều gì...
Đạp xe
thật nhanh, tôi về thẳng nhà. Thế là mất toi ba hào bánh rán! Lại phải còng
lưng đạp xe mấy cây số đèo em. Đúng là "dã tràng xe cát"!
Tôi tự
an ủi: "Thôi, thế cũng còn may! Chứ đúng dịp được về nhà mới lên, "sỹ
quan" lần túi áo mẹ xin được một, hai đồng thì hôm nay còn mất thêm tám
hào-hai bát phở cho các em, chắc gọi là "phí làm quen"! Mà tôi chưa
bao giờ có ý thức và sẵn sàng cho loại phí này ngoài phí vá xe đạp của mình!
Mất ba
hào nhưng học được bài "phí làm quen" cũng hay hay! Học phí bài này
có khi là quá rẻ!
Cởi áo
"sỹ quan" treo ngay ngắn trên mắc, chú lính binh nhì ngồi ngắm áo rồi
tủm tỉm cười một mình, thì ra... "tuy một mà hai!".
Trang 5 / 14
5 Sài
Gòn, 30/08/2013
Đỗ Thành
Hưng,
(Học
sinh trường Trỗi chúng tôi ba năm đầu binh nhì-hai năm cuối binh nhất-ra trường
không đủ một tuổi quân trước khi vào học nên đồng loạt nhận chuẩn uý-một năm sau
mới lên thiếu uý).
Trang 6 / 14
6
"SỸ QUAN BINH NHÌ"
***
TRUY TÌM "ÔNG ANH HỌ".
Mải miết
ôn bài để kiểm tra mấy môn học giữa kỳ. Tôi đã quên dần chuyện "phí làm
quen" của hai tuần trước. Sáng chủ nhật, tôi mang xe đạp ra lau chùi rồi
để ngoài sân cho khô ráo.
Ngồi bệt
ở ngoài hiên, tôi ngắm xe xem còn chỗ nào chưa vừa ý. Trời đã bắt đầu lành
lạnh, từng cơn gió bấc nhè nhẹ tràn về làm xào xạc hàng cau trước sân nhà. Bất
giác tôi nhìn lên, mấy tàu cau non vươn thẳng như đùa giỡn mỗi khi làn gió bấc
tràn qua. Có tiếng chân đi từ ngoài ngõ vào, nhìn ra tôi thấy Ngô Gia Hồi tới.
Hồi lên tiếng:
- Hiền
thế? Chủ nhật không đi chơi đâu hả Hưng?
- Lớp tớ
đang ôn thi hết môn, tuần sau mới rảnh ông ạ!
Hồi ngồi
xuống cạnh tôi, hai thằng nói chuyện tầm phào một lúc. Hồi khen xe tôi đẹp rồi
đứng dậy ra cầm ghi đông lắc lắc, búng búng mấy cái vào khung xe.
- Xe
thống nhất loại một có khác, tiếng kêu nghe trong ghê, xe chắc chắn thật. Xe
của Hưng đăng ký ở Hà Nội à? Q-067 này!
- Ừ! Xe
của ông "Khốt" để lại đấy, ông ở Tổng cục chính trị mà! Thế xe của
Hồi đâu mà đi bộ?
- Xe tớ
hỏng líp chưa sửa được, cho tớ mượn xe chạy ra chợ tí nhé?
- Ừ, đi
đi!
Hồi nháy
mắt chào tôi rồi dắt xe đi. Tôi vào nhà lấy sách vở ôn bài. Mãi đầu giờ chiều
Hồi mới mang xe trả. Hồi nói: 
Trang 7
/ 14
7
- Về lâu
rồi, lúc sáng ra chợ Lồ mua con cá mấy thằng tớ cải thiện bữa chủ nhật. Ăn rồi
nghỉ trưa, bây giờ mới trả xe ông đây.
- Trả
lúc nào chả được, mình có đi đâu đâu, đang ôn thi mà!
- À Hưng
ơi! Sáng chủ nhật tuần sau bọn mình đi xuống trại cá giống xem cá chép đỏ, chép
vàng cực đẹp. Có con hơn hai ký lô ông ạ.
- Ông nói
sao chứ làm gì có cá chép màu đỏ, màu vàng? Từ bé tới giờ tớ chỉ thấy cá chép
đen trắng, chưa thấy cá chép màu bao giờ.
- Ở
Trung Quốc tớ thấy đầy! Trại cá mới mang giống về đấy.
Rồi Hồi
khích tôi:
- Phải
"đi một ngày đàng mới học được một sàng khôn" ông ạ!
- Ừ! Đi
thì đi, có xa không?
- Đạp xe
không quá nửa tiếng.
- Đồng
ý! - Tôi trả lời quả quyết.
Hồi chào
tôi rồi ra về.
Đúng
hẹn, Hồi đạp xe tới rủ tôi đi. Mỗi thằng một xe, chúng tôi đi về phía cuối xã
rồi lên đê sông Cà Lồ, cứ đi dọc theo đê, tôi và Hồi đi song đôi, vừa đi Hồi
vừa kể về mối tình của Hồi và Phương.
Bây giờ
tôi mới biết bố của Hồi và Phương là bạn chiến đấu thời chống Pháp. Hai cụ là
bạn tù, đã mấy lần vào tù, ra khám. Sống chết có nhau, tình đồng chí, đồng đội
đã gắn kết hai cụ còn hơn anh em ruột thịt. Hai cụ đã hứa với nhau sẽ là thông
gia nếu còn sống trở về. Tình yêu của Phương và Hồi là kết tinh của tình đồng
chí, đồng đội thuỷ chung, son sắt, của những con người quả cảm, một lòng vì
cách mạng. Một mối tình quá đẹp và đáng trân trọng biết bao.
Vừa tò
mò, vừa cảm động khi nghe Hồi kể về tình yêu của mình. Tôi thầm cầu chúc cho
tình yêu và hạnh phúc của hai bạn sẽ đơm hoa kết trái, mãi
mãi dài
lâu, thuỷ chung như tình đồng chí, anh em của hai cụ.
Mải nghe
chuyện của Hồi, hai chúng tôi tới một làng ven đê mà tôi không biết là đâu. Tôi
hỏi Hồi:
- Đi đâu
nữa? Còn xa không Hồi?
- Đến
rồi! Chỗ hàng cây dâm bụt đó.
Trang 8 / 14
8
Hồi nói
rồi chỉ tay về phía trước và tủm tỉm cười. Tôi chột dạ:
- Mày
đưa tao đến chỗ Phương phải không?
- Ừ! Chủ
nhật đi chơi một tí cho thoải mái, chứ mày cứ ru rú xó nhà học suốt nó mụ đầu
ra đấy.
- Nhưng
chiều mai lớp tao phải thi môn nguyên lý máy, tao ôn chưa xong.
- Vào
chơi một chốc, chừng một tiếng là về, được không? Thôi vào đi!
Hồi đẩy
tôi đi trước. Thế là tôi rơi vào thế "chẳng đặng đừng" không thể
thoái lui. Tôi linh cảm thấy có gì đó không bình thường. Tôi nghĩ thầm:
"vào thì vào, sinh viên đại học Kỹ thuật quân sự có ngán gì! Cần thì giở
bài "cuội" là xong!". Hai chúng tôi dắt xe vào, dựa xe bên gốc
cây cau trước sân. Trong nhà, hai em chạy ra, em ra trước có vẻ lễ phép:
- Em
chào anh Hồi!
Rồi khẽ
gật đầu, lý nhí chào tôi. Cô bạn ra sau tươi cười, niềm nở:
- Em
chào anh Hưng!
Em không
chào Hồi mà chỉ nhìn âu yếm rồi đon đả mời hai anh vào nhà. Thấy thái độ hai em
khác nhau, tôi nhận ra ngay em ra sau là Phương. Cái cảm nhận đầu tiên của tôi
khi gặp Phương: Phương là một người con gái đẹp, một cái đẹp rất thánh thiện.
Từ phong thái, lời nói và con người Phương toát ra một sự đài các, kiêu sa
nhưng kín đáo, thông minh và lanh lợi. Tôi mừng cho Hồi có người yêu là một cô
gái "tài sắc vẹn toàn".
- Anh
Hồi pha nước cho em đi! - Phương giục Hồi.
Tôi tìm
cách chủ động cho lần gặp gỡ đầu tiên:
- Phương
ở đây có hai chị em thôi à? Bác chủ nhà không có nhà hả Phương?
- Vâng!
Mỗi nhà chúng em ở có hai đứa. Hai bác chủ nhà ra đồng cả rồi. Mà sao anh Hồi
chưa giới thiệu, anh đã biết em là Phương?
Tôi lên
giọng kẻ cả, tỏ ra người sành sỏi ngoại giao:
- Nhìn
thái độ là biết chứ cần gì phải giới thiệu!
- Các
anh tinh thật đấy. Sinh viên đại học kỹ thuật quân sự có khác!
Tôi thấy
vui vui trước lời khen có vẻ thán phục của Phương và thầm nghĩ:
đấy là
em chưa biết tài bẩm sinh của tôi là "nói như cuội". Em mà biết thì
phải phục lăn chứ chẳng chơi!
Trang 9 / 14
9
Hồi mang
nước ra bàn và chúng tôi ngồi uống nước. Tôi và Hồi ngồi một bên, Phương và bạn
ngồi một bên. Phương giới thiệu bạn của mình rồi giới thiệu tôi với cô bạn của
Phương. Qua mấy câu chuyện tầm phào, nửa thân mật, nửa xã giao, Phương nhìn Hồi
và tôi rồi nói:
- Bọn
bạn em đứa nào cũng ngưỡng mộ sinh viên đại học kỹ thuật quân sự lắm đấy. Chúng
nó cứ tị với em "Phương may mắn có anh Hồi", cậu nhớ giới thiệu cho
bọn này làm quen với bạn anh Hồi nhá.
Nghe
Phương nói, sự kiêu hãnh dâng tràn trong tôi. Còn Hồi không nói gì, chỉ cắn hạt
dưa và tủm tỉm cười. Phương nói tiếp:
- Mấy
tuần trước em có hai đứa bạn đi chơi về khoe: bọn tớ xuýt "tóm" được
một anh bộ đội "sỹ quan" hẳn hoi, trẻ, đẹp trai, da trắng, cao cao,
môi đỏ tươi như môi con gái, nói chuyện dẻo như kẹo. Nhưng chưa đâu vào đâu thì
anh ta chạy mất. Tiếc ơi là tiếc!
Nghe vậy
tôi hơi giật mình, chả lẽ là chuyện của mình...? Tôi trấn tĩnh để
đáp lại
lời Phương.
- Bộ đội
thì đầy, sinh viên bưu điện nhặt đâu chẳng được!
- Ứ!...
Không dễ đâu anh, phải là bộ đội đại học như các anh cơ. Em nghe anh Hồi em kể
về anh và mấy anh nữa, em kể lại cho chúng nó nghe, chúng nó khoái lắm, cứ đòi
được làm quen với các anh đấy.
Tôi giả
bộ khiêm tốn:
- Bọn
anh toàn những đứa dở hơi thôi em ạ, quen làm gì!
Nói rồi
chúng tôi cùng cười. Phương bảo bạn:
- Loan
ơi! Cậu lấy bánh mời anh Hồi và anh Hưng ăn đi, quên mất!
Phương
lấy kéo, vừa nói chuyện vừa cắt đôi từng chiếc bánh rán ở trong đĩa.
Thấy đĩa
bán rán tôi đã nhột nhột... Phương tiếp:
- Bánh
rán bột nếp nhân đậu xanh hẳn hoi. Em và Loan vừa làm sáng nay để đãi hai anh
đấy!
Nhìn
những chiếc bánh rán vàng ươm, nhân đậu xanh vàng tươi mà tôi đã thấy thèm quá,
cố giấu nước miếng bằng cách uống ngụm trà để khoả lấp.
Tôi
nghĩ: "Ước gì được ăn rồi nói chuyện gì hãy nói thì tuyệt biết bao
nhiêu".
Phương
lại tiếp:
- Em
nghe anh Hồi nói anh Hồi và anh Hưng thân nhau lắm?
Trang 10 / 14
10
Chả nhẽ
lại trả lời Phương là: "Không thân lắm đâu vì khác lớp". Tôi ừ đại
cho xong:
- Ừ! Bạn
học với nhau thì phải thân rồi!
- Đã vậy
anh đồng ý cho em coi anh như người anh trong nhà nhé?
Tôi chưa
biết trả lời ra sao, thôi thì cứ ừ bừa đi để chóng được ăn bánh đã, có gì tính
sau.
- Sợ em
chê, chứ được anh Hồi đồng ý thì anh giơ cả hai tay!
Phương
hỏi Hồi:
- Anh
Hồi đồng ý nhé?
Hồi cười
rồi gật đầu.
- Đấy
nhá! Anh Hồi đồng ý rồi. Em coi anh Hưng như người anh em họ được không?
Nghe vậy
tôi thấy có gì đó không ổn rồi, chắc tôi đang bị giăng bẫy? Chưa biết nói sao
thì Phương đã cắt xong bánh, Phương đặt đĩa bánh giữa bàn, tươi cười nhìn hai
chúng tôi:
- Em mời
anh Hồi, em mời "anh họ" của em ăn bánh! Bánh rán bột nếp chắc chắn
ngon hơn bánh rán của cửa hàng đấy!
Tôi nghe
mà ngỡ ngàng, sững người! Chết tôi rồi! Phương đã biết hết mọi chuyện của tôi
mấy tuần trước nên Phương đã chủ động làm bánh rán đãi tôi. Vậy là tôi đã bị
Hồi và Phương cho vào bẫy mất rồi! Cầm miếng bánh Phương đưa mà tôi không biết
làm gì, chỉ còn thấy mùi thơm của bánh rán toả ra. Tôi đỏ mặt vì xấu hổ. Nghĩ
tới câu chuyện "cuội" của tôi mấy tuần trước, nay Phương đã biết tỏng
rồi! Thấy tôi ngồi ngây ra, Phương giục:
- Kìa
anh Hưng, ăn bánh đi anh!
Tôi
ngượng ngùng cắn một tí, chẳng còn thấy cái thơm, cái ngậy, cái ngọt của bánh
rán nếp là gì.
Tôi trở
nên đần độn, vụng về, chưa biết cách gì đối phó. Cái kiêu hãnh của tôi tan biến
đâu rồi? Tài bẩm sinh "cuội" của tôi cũng không kịp chỉ đường mách
lối. Phương và Hồi thấy tôi ngồi ngây ra, hết đường chống đỡ. Chắc không nhịn
cười được nữa, Phương và Hồi cùng phá lên cười làm tôi càng xấu hổ và lúng
túng. Hồi ôm lấy tôi vừa cười vừa nói:
Trang 11 / 14
11
- Bọn tớ
đùa tí thôi, tuổi trẻ mà, phải thế mới vui, đời sinh viên đang đẹp ông ạ!
Tôi xấu
hổ nhưng không biết chống chế thế nào nên cũng phải cười theo. Em Loan cũng
cười chúm chím. Rồi chúng tôi ăn bánh, hỏi chuyện học hành của nhau. Thấy đã
lâu lâu, tôi bấm Hồi, Hồi nói:
- Thôi!
Bọn anh về đây! Mai có kiểm tra phải về ôn bài, lần khác tới chơi lâu hơn nhá!
Phương
vẫn chưa tha cho tôi. Phương hỏi:
- Anh
Hưng ơi! Mấy giờ rồi anh?
Trong
khi trên tay Phương cũng có đồng hồ. Tôi không dám kéo tay áo bốn túi xem giờ
như mọi khi mà trả lời phỏng chừng để đối phó:
- Chắc
gần mười giờ rồi còn gì! Bọn anh về nhá!
Phương
tiễn hai chúng tôi lên tận bờ đê mới chia tay. Phương còn lèo thêm một câu như
cảnh cáo:
- Anh
Hưng biết trường Việt-Ba không? Tiếc quá! Hôm nay hội trường, Lan và Hảo về dự
rồi, không tới chào anh được. Hẹn lần sau anh Hưng nhé!
Đường
khó đi, hai anh đi cẩn thận, không rơi xuống ổ gà là ngã đấy!
Nói
xong, Phương cười rất tươi, vẻ đắc thắng, rồi giơ tay vẫy vẫy và gật gật đầu
tạm biệt, nửa như chọc tôi, nửa như khuyến khích...
Tôi đỏ
mặt, cười trừ rồi chào Phương.
Trên
đường về tôi trách Hồi:
- Ông
chơi tôi ác quá! Làm tôi chết đứng, không biết ứng phó, xoay sở làm sao!
Hồi lại
cười phá lên và nói:
- Chuyện
vui, đời sinh viên mà! Có gì đâu! Có khi lại là một kỷ niệm đẹp đấy ông ạ!
- Thế
sao Phương biết chuyện này của tớ? Tớ đã kể cho ai nghe đâu?
không có
anh họ nào là bộ đội ở độ tuổi hai mươi, hai mốt như các em tả.
Tụi sinh
viên nữ nó tinh lắm. Nó nói với Phương: nhìn anh ta bọn mình đoán ngay là bộ đội
học trò rồi! Dù khoác cái áo bốn túi nhưng không che được cái mặt búng ra sữa!
Da dẻ thì trắng, môi đỏ tươi,... chắc chắn là bộ
Trang 12 / 14
12
đội
trong nhà chứ không phải là bộ đội ngoài trận địa dãi nắng, dầm mưa.
Bọn mình
đang nghĩ cách làm quen thì anh ta lại làm quen trước. Nhận là anh họ của
Phương, lại không nói đủ họ tên em gái nhưng biết rõ người yêu của nó là Ngô
Gia Hồi, thì chắc chắn là cùng học với anh Hồi rồi! Chúng tớ biết thừa anh ta
hỏi đường là kiếm cớ làm quen. Chứ bộ đội "sỹ quan" gì thời chiến mà
lại không biết đường từ nơi đóng quân về huyện? Quần áo thì sạch sẽ, mới toanh,
giầy đen bóng loáng! Chủ nhật chắc đi chơi đây! Được
cái nói
năng lưu loát, dễ thương! Lúc anh ta từ chối vào ăn là tớ biết anh ta kiếm cớ
chạy làng. Cơ quan huyện chả ai làm việc ngày chủ nhật, trừ người trực. Mà trực
để giải quyết việc quân sự thời chiến. Anh ta thì đi tay không, ăn mặc tươm tất
như đi dạo phố! Cái mặt thì non choẹt, nhìn là biết không phải lính trận mạc
rồi! Nhưng anh ta cũng khôn, biết để ngỏ cửa còn quay lại: " xong việc anh
ra ngay"! Vào cửa hàng ăn, tớ và Hảo bảo nhau: "chỉ tí nữa thôi là
anh ta quay lại đấy!" thì y như rằng...!
Lúc anh
ta ra quầy, lại đứng khuất sau quầy hàng, mình lén ra coi thấy anh ta đang lục
túi tìm tiền, nhìn mà buồn cười quá! Về bàn ngồi, mình nói với
Hảo:
- Mình
sắp được ăn bánh rán mì rồi!
Một lúc
sau anh ta hồ hởi mang mấy cái bánh rán vào. Bọn mình cứ để yên xem anh ta diễn
tới đâu...Thì ra sinh viên đại học kỹ thuật quân sự cũng ngù ngờ, nhút nhát
thật Phương ạ! Thấy anh ta có vẻ có cảm tình với Hảo, khi anh Hiền mình tới,
mình nói bỏ lửng một câu thăm dò bản lĩnh anh ta, thế là "thần hồn nát
thần tính", anh ta tìm cớ thối lui. Mình định nói là đùa để anh ta khỏi
sợ, chưa kịp nói thì anh ta đã đứng dậy bỏ chạy mất tăm! Anh Hiền đã gần bốn
mươi rồi mà anh ta không biết suy luận gì cả, là người... anh cả hay anh hai,
anh ba của tớ thì sao? Nhưng anh ta quên mất rằng cái xe đạp thống nhất, biển
số Q-067 là "dấu lông ngỗng" của "chàng Mỵ Châu" còn để
lại! Cậu nói anh Hồi tìm bằng được "ông anh họ" của cậu cho chúng tớ
nhé!
- À...!
Ra thế! Nên chủ nhật trước ông xăm soi biển số xe rồi mượn xe tôi phải không?
Nói dối là đi chợ!
Hồi cười
to:
- Chứ gì
nữa! Tớ đạp xe xuống chỗ Phương, hai em Hảo và Lan thấy xe ông là cười ngất vì
tớ tóm được "cuội" rồi!
Tôi lại
trách Hồi:
Trang 13
/ 14
13
- Biết
được rồi thì thôi! Sao hôm nay ông lại "giải" tôi đi gặp Phương mà
không nói trước? Để chịu thất thủ ngay từ cú ra đòn đầu tiên của Phương, mình
không nói gì được!
- Nói
trước để ông từ chối à! Phương nhất định bắt tớ phải tìm cách "dẫn
giải" ông tới để Phương xem mặt "ông anh họ" đẹp trai cỡ nào mà
Lan và Hảo nó khen nức nở! Nhân tiện xem "tài" ứng phó của
"cuội" ra sao đấy!
Thế mà
bấy lâu nay tôi cứ tưởng bọn sinh viên đại học kỹ thuật quân sự chúng tôi là
nhất! Các em chỉ là những cô "cừu non". Dù nói thật hay
"cuội" thì các em cũng tin sái cổ! Thì ra bọn tôi mới là những
"chú cừu" ngù ngờ nhất! Bấy lâu nay chỉ toàn tự huyễn hoặc mình, tự
kiêu, tự đại trước các em.
Tôi hỏi
Hồi:
- Sao
các em mới học năm thứ nhất mà tinh ranh, sắc sảo vậy Hồi? Họ phân tích và nhận
định về chỗ sơ hở của tớ là quá đúng! Mình không thể ngờ được mình sơ hở như
vậy!
- Ông
ơi! Va chạm cuộc sống thì các em là năm thứ ba, thứ tư đấy. Bọn mình mới là năm
thứ nhất thì có! Đây nhá: bốn, năm năm nay, bọn mình ở trường quân đội, toàn ở
rừng, ở rú, có được thường xuyên tiếp xúc với cuộc sống đâu. Nghỉ phép một
tháng, chưa kịp hết nhớ mẹ thì lại về trường rồi. Những bài diễn của ông hôm
trước là xưa rồi! Đó là bài của mấy cậu học sinh đang tập toẹ! Bọn con gái nó
tinh ranh hơn bọn con trai tụi mình nhiều! "Nhìn mặt" là họ "đặt
được hình dong" ngay. Không "cuội" được đâu!
Tôi gãi
đầu và tiếp lời Hồi:
- Ừ!
Thảo nào bây giờ tớ mới biết có cả "phí làm quen"! Đúng là mình khù
khờ, ngớ ngẩn thật!
Nói rồi
hai chúng tôi cùng cười.
Ngày
tháng trôi qua, vào năm thứ tư chúng tôi lại chuyển đi nơi khác. Mải mê vào học
những năm cuối, rồi thi tốt nghiệp-ra trường mỗi đứa một nơi- chiến tranh-khó
khăn trong cuộc sống-lại khác ngành nghề-rồi lo công, lo việc-lo gia đình, tôi
và Hồi, Phương không có điều kiện liên lạc gì với nhau nữa.
Bốn mươi
lăm năm sau, viết lại kỷ niệm này, tôi nhớ tới họ và liên lạc qua điện thoại.
Gặp Phương. Nghe tôi tự giới thiệu về mình, Phương nhận ra ngay. Kỷ niệm cũ ùa
về, vẫn với giọng cười hồn nhiên và tinh quái, dù đã ở cái tuổi lưng còng, tóc
bạc, răng long cả rồi! Chúng tôi ôn lại kỷ niệm thời sinh viên hồn nhiên, ngây
ngô và ấu trĩ... nhưng thật đáng yêu, đáng nhớ!
Phương
hứa sẽ chuyển lời hỏi thăm của viên "sỹ quan binh nhì" "thích ăn
Trang 14 / 14
14
bánh
rán"năm xưa tới Hảo và Lan ở lần họp lớp tới. Nói lời tạm biệt, dù giọng
nói không còn trong trẻo, tròn trịa như xưa, nhưng Phương vẫn không quên chọc
tôi:
- phem
phào "phông phanh phọ" phủa phem!
dịch là:
- em chào "ông anh họ" của em.
Sài Gòn,
18/09/2013 Đỗ Thành Hưng, B5-C213 *******
Nguyễn Thanh Sơn
BÂY
GIỜ EM Ở ĐÂU.
Cuối chiều hôm đó
tôi với Trọng vừa về tới phố Hàm Long bỗng nghe tiếng gọi lớn, giật
giọng:
Anh Sơn, vào đây
uống nước đã! À Hùng, Hùng "phễu" đang ngồi
cùng mấy cậu bạn tổ điện, mặc đồng phục màu lửa, đỏ rực cả một góc quán. Tôi
bảo Trọng: -Ta vào tý đã. Hùng giới
thiệu tôi với mấy anh em tổ điện:-Đây là a.Sơn, đại đội trưởng của tôi hồi
ở Trường Sơn.Còn tôi thì giới
thiệu với Trọng và có thể cả với mấy anh em còn chưa biết:-Đây là Hùng, còn gọi
là Hùng "phễu"! Các cậu có biết là tại sao lại có cái tên như thế
không? Là vì thế này, ở Trường Sơn không nói tới bom đạn, tới sốt rét… mà chỉ
riêng sự vất vả mùa khô bụi phủ đầy đầu tóc, anh em ta thì người nhỏ bé, cả
ngày vần cái xe 3 cầu rất mệt. Không phải là không đói, mệt quá, chả thiết ăn
gì. Thấy anh em trệu trạo nhai miếng lương khô mà thương. Còn Hùng, lúc nào
Hùng cũng ăn ngon lành! Cứ ngửa cổ ra nhét hết vào miệng: Thịt hộp, măng rừng,
rau tàu bay...rất hồn nhiên, và vui vẻ. Chính vì thế nên anh em mới trêu là
"phễu" và bây giờ mới to khoẻ thế chứ.Chúng tôi cùng cười...Nào, xin
mời!
Đột ngột Hùng hỏi tôi: -Thế anh đã tìm thấy
em Lương chưa?
-Chưa thấy. Mọi con mắt đều đổ dồn vào tôi, như sắp được nghe một câu chuyện tình
mùi mẫn ở chiến trường. Trọng cũng có vẻ để ý, tôi với Trọng chơi với nhau từ
nhỏ không dấu nhau điều gì, hơn nữa Trọng rất thân với...vợ tôi.Hùng hỏi: - Sao anh không nhờ chị em Trưng Trắc họ
tìm cho?-Nhờ rồi, không thấy.Tôi lại phải giải thích: Năm 1971, tỉnh Hà Tây có
tổ chức một tiểu đoàn toàn nữ gọi là tiểu đoàn Trưng Trắc, hơn 600 chị em đi
vào chiến trường, phần lớn ở sư đoàn tôi. Tuổi trẻ 17,18 tuổi cô nào cũng khoẻ
đẹp cả. Con gái mà vào chiến trường thì gian khổ lắm, vất vả lắm, hơn con trai
bội phần. Cô thì nuôi quân, cô thì y tá, cô thì bốc hàng ở kho. Các cậu có biết
không, như cô Yên bốc hàng ở kho KĐ1 có ngày bốc tới 22 tấn hàng!Song phải nói
là ngày đó rất nghiêm túc, không phải những
chuyện trai gái giữa rừng như đám trẻ bây giờ tưởng tượng đâu...Câu hỏi của
Hùng làm cho tôi nhớ lại một kỷ niệm:
Cuối năm 1971 sau hơn 1 tháng đi bộ, tôi về
được đến đúng cái đại đội mà tôi được cử vào công tác, đó là đại đội sửa chữa
tiểu đoàn 102 binh trạm 32. Cậu Quang y tá dẫn tôi đi men rừng, vượt qua bãi
bom B52 dài hơn 9 km thì về tới đơn vị, có nghĩa là về đúng cái nhà cuối cùng
của mình. Người nhà đầu tiên mà tôi gặp, lại là một cô gái, chính là cái cô
Lương mà Hùng vừa hỏi tôi đó. Không phải là Lương ra đón tôi, mà là cô ấy đang
rửa rau ở suối, thấy tôi cô ấy e lệ gật đầu chào. Như Quang kể thì mọi người
đều đã biết tôi về, một kỹ sư trẻ tuổi, đẹp trai...Song tôi chả để ý gì cả, chỉ
cảm thấy cô ấy như cái ảnh cô dân quân trong buổi duyệt binh ngày nào, áo nâu
căng lẳn, khoác súng trường, khuôn mặt tươi sáng...Khác với tưởng tượng của
tôi, không phải là tay bắt mặt mừng, mà chỉ có những cái gật đầu chào lặng lẽ.
Lạ, mọi người đều như là đi nhẹ, nói khẽ vậy...(?) Bấy giờ tôi mới biết là anh
em trên chòi quan sát mới báo về là máy bay nó vừa thả hai cây thu phát nhiệt
đới xuống khu vực này, mới tìm được một, còn một đang tìm.
Cây thu phát nhiệt đới là một loại máy thu
phát vô tuyến điện, cực nhạy. Được nguỵ trang dưới dạng một cành cây, tất cả
đều bọc nhựa xanh, dễ lẫn với cây rừng. Tất cả các tiếng động: Tiếng người cười
nói, tiếng chân bước, tiếng máy nổ...nó đều thu lại và phát về căn cứ, và lập
tức máy bay đến ném bom, hèn gì mà tất cả đều im lặng. Nửa tiếng sau mới tìm
thấy, nó mắc trên một cây cổ thụ. Cậu Tuyến xách ra một khẩu CKC và một...
thùng đạn, sau khi bắn một phát xuyên thủng thân cây thu phát nhiệt đới, để phá
hỏng nó. Cậu ta lần lượt bắn đứt ...từng sợi dây dù cho rơi xuống, để tháo ra
lấy bóng bán dẫn lắp đài!
Bấy giờ anh em mới nói chuyện vui vẻ, và đơn
vị tổ chức liên hoan...
Và tờ mờ sáng hôm sau, tôi được đón tiếp bằng
một trận bom B52 ném đúng vào đơn vị này. Đang ngủ rất say thì tôi bỗng choàng
tỉnh vì bom nổ, chát chúa đinh tai nhức óc... vậy mà tôi cũng lạ, ngồi xổm trên
giường khoác chăn, mà tôi cứ nhấp nhổm nhìn qua khe hở nắp hầm, để xem...bom
nổ. Có đến hàng ngàn cái máy hàn đang chớp sáng...B52 rải thảm bom bi!
(Nhấp nhổm vì vừa tò mò muốn xem lại vừa
sợ một viên bi lọt qua khe hở cắm vào… giữa trán. Sau này bị nhiều, tôi có kinh
nghiệm là: B52 rải thảm bom bi, nếu ở dưới hầm thì 100% là sống, nếu ở trên mặt
đất thì 100% là...chết. Còn B52 rải thảm bom phá thì, lạy chúa...còn xem nó rơi
vào đâu đã!)
Vậy thôi, tôi chả có kỷ niệm riêng gì về cái
cô Lương này cả, và cũng chả bao giờ xuống bếp. Cả ngày lao động vất vả, nuôi
quân cho ăn cái gì thì ăn cái đó, và cũng chả bao giờ để ý là ăn cái gì. Chỉ
riêng có một chuyện là trên thông báo xuống là đơn vị tôi được cử một người đi
học y tá, ban chỉ huy chúng tôi thống nhất là cho Lương đi, vậy thôi.
Đến cuối tháng 5, bắt đầu mùa mưa 6 tháng
liền - mùa mưa thì hết hoạt động giống như gấu đi ngủ Đông vậy – các đơn vị đi
vào sửa chữa bảo dưỡng xe, căng tăng ni lông chuyển lên nóc hầm ở - còn
tôi lại được binh trạm giao nhiệm vụ tổ chức một lớp đào tạo thợ, quy mô đại
đội. Đào tạo thợ ở trong chiến trường thì rất khó khăn, đến viên phấn còn khó,
nữa là sách vở. Song chúng tôi rất quyết tâm, tôi và mấy cậu trung cấp kỹ thuật
vắt óc ra mà biên soạn giáo án, còn anh em được cử về học thì háo hức chờ đợi.
Ở trong chiến trường tôi mới thấy hết cái thèm được học của anh em, đang chiến
tranh đang chẳng biết có còn sống hay không, song ai cũng tin là sẽ có một ngày
chiến tranh chấm dứt, họ sẽ trở về nhà. Và lúc đó thì làm gì để sống lại là một
câu hỏi lớn? Được đi học, dù là chỉ đi học y tá, học thợ để có cái nghề sau này
đã là một điều may mắn. Lương cũng vậy.
Khoá đào tạo thành công rực rỡ, mọi
người đang háo hức tổ chức liên hoan để đi nhận một việc hoàn toàn mới.
Thì tôi, "Trung tâm" của lớp học, lăn quay ra sốt rét! 5 cậu học
viên, họ chặt một đoạn tre buộc lên cái võng, cáng tôi sang đội điều trị... Và
từng tốp thợ mới, họ sang chào tạm biệt tôi.Đơn độc, chỉ còn lại một cái ba lô.
Binh trạm của tôi được chuyển thể thành trung đoàn xe, và như vậy chúng tôi
không còn chỉ chạy loanh quanh trên đất của binh trạm nữa, giờ đây chúng tôi có
thể chạy khắp chiến trường, khắp Trường Sơn. Và trung đoàn xe của tôi cũng
không thuộc sư đoàn cũ nữa, chuyển ra đóng ở ngã 3 Lùm Bùm, về phía bắc khoảng
30 km. Mới đỡ sốt, tôi lại đòi ra, để về đơn vị.Song trước khi đi bộ ra Lùm Bùm
cách 30 km, thì tôi đi ngược lại lên sư đoàn bộ cách đó 9 km, để chào chú Chấn,
chú Thiềm, chào Vị…Lê VănVị cùng tốp kỹ sư đầu tiên của khoá 1 ĐHQS đi thẳng
vào chiến trường với tôi, song Vị lại nhận nhiệm vụ ở phòng Tham mưu Sư Đoàn.
Cứ mỗi lần nghe B52 đánh vào chỗ tôi, thì Vị lại kêu lên: Phen này thằng Sơn
chắc chết. Song gọi điện thoại, thấy tôi cười khanh khách thì Vị lại kêu: Số
mày còn cao!
Chú Lê Khánh Thiềm, chủ nhiệm hậu cần sư
đoàn, có họ hàng xa với tôi. Năm ngoái, khi lên sư đoàn để trình diện, chú
Thiềm đã tìm gặp tôi, chú ấy ngạc nhiên: Sao con ông Tạo cũng vào đây? Thấy tôi
khoẻ mạnh trắng trẻo, chú ấy lắc đầu: Cũng chỉ được vài tháng thôi (?)
Còn chú Nguyễn Quốc Chấn, Tham mưu
trưởng sư đoàn, lại là trong nhóm bạn thân với anh Hoàng Xuân Điền - Binh Trạm
trưởng 33 - anh con cô con cậu với tôi. Họ còn mấy người nữa: chú Quách Sỹ Kha,
chú Nguyễn Cận, chú Phan Khắc Hy…họ là những người lính đầu tiên, và cũng là
những chỉ huy đầu tiên của trung đoàn Đội Cung thủa nào. Tôi muốn lên chào họ,
là vì giờ đây không còn trong một sư đoàn nữa, biết đến bao giờ mới gặp.
Thất thểu, một mình một bóng xuyên rừng già
Trường Sơn mùa mưa ( Cũng liều
thật, không một tấc sắt phòng thân mà rừng Trường Sơn thì đầy thú dữ hiểm nguy
rình dập, nếu làm sao thì là làm sao?-mất tích không rõ nguyên nhân!) vượt qua hơn 9 km, vào tới hầm chú
Chấn thì tôi đổ vật xuống, tôi sốt rét trở lại, rất nặng. Làm tội chú Chấn, vội
gọi mấy cậu công vụ dìu tôi sang bệnh xá sư đoàn.
Tôi không ngờ là tôi lại sốt cao đến như vậy. Tiêm Quy Nin -
một loại thuốc dầu chữa sốt rét - mà tất cả tay, đùi, mông, những chỗ có thể
chọc kim vào đều đã bị cứng đơ lại, do dầu không tan. Nếu cố ấn kim thì cái kim
gập khịu xuống, phải đưa thuốc vào ven.
Đầu tôi tóc
lưa thưa, mắt trắng dã, người gầy xác xơ, da thâm tái. Đã vậy lại còn bị đinh
râu! Có một cái nốt như muỗi cắn ở trên môi tôi không biết cố nặn, thế là đinh
râu, môi sưng như con đỉa vắt qua mồm.
Đúng là chiến tranh và chiến trường. Nó không
chỉ là bài hát, câu thơ của các văn nghệ sỹ, mà nó vô cùng khốc liệt. Mới chỉ
một năm trước tốt nghiệp ĐHQS tôi khoẻ đẹp như một hoàng tử, vậy mà chỉ một năm
sau tôi đã như một con mèo hen, yếu đuối, rụt rè...
Ồ, tôi lại gặp Vị, cũng nằm bệnh xá. Không
những vậy còn gặp Chung, cũng lại nằm bệnh xá. Nguyễn Duy Chung là kỹ sư ra đa
vào trung đoàn cao xạ 591.
3 đứa chúng tôi dìu nhau ra suối tắm, thật
khốn khổ nước suối chỉ tới đầu gối, chảy chậm. Vậy mà 3 chúng tôi phải nắm chặt
tay nhau, dò dẫm bước trên những tảng đá, cứ như là buông tay nhau ra thì bị
suối cuốn mất tăm mất tích?
Và, tôi lại gặp Lương! Té ra Lương được
cử đi học y tá là học ngay ở
bệnh xá sư đoàn. Tôi ngạc nhiên một thì gặp tôi, Lương ngạc nhiên mười.
Tôi không hiểu là cô ấy nghĩ gì, song
một điều chắc chắn là cô ấy không
tưởng tượng được là tôi lại sa sút đến như vậy. Mới ngày nào gặp tôi bên bờ
suối, tôi là chỉ huy lại trẻ trung phong độ, vậy mà... Liệu cô ấy có thương hại
tôi không?
Tôi ít tiếp xúc với con gái, cũng dễ hiểu
thôi, vì từ 17 tuổi đến nay đi bộ
đội, mà môi trường bộ đội thì rất ít con gái. Thêm nữa tôi lại không bạo dạn,
làm việc thì tôi rất sôi nổi song tôi hay nghĩ, tôi sống nội tâm và vì vậy tôi
rất sợ con gái...nói nhiều.
Sau khi tròn xoe mắt nhìn tôi một cách kinh ngạc, thì cô ấy
không nói gì nữa, song cô ấy quan tâm và chăm sóc tôi đặc biệt. Nếu rỗi thì cô
ấy lại chạy sang lán bệnh nhân của tôi, cô ấy pha nước bột cam cho tôi, và ngồi
cuối giường chẳng nói chẳng rằng phe phẩy cái quạt... Tôi xa nhà, trong cảnh ốm
đau mà tôi như có một cô em gái đang chăm sóc mình.
Tôi lúc đó 24
tuổi, cái tuổi bao ước mơ khát vọng, bao nỗi riêng tư...song có lẽ tôi đã rất
già, vì tôi rất khô. Cũng có lẽ vì tôi đã trở thành một con chiên rất ngoan
đạo, giống như một chú tiểu đã xuống tóc đi tu...cần xa lánh trần tục.
Cô ấy ngồi cuối giường phe phẩy cái quạt, vừa
quạt vừa đọc một cái gì đó.
Tôi nhìn thấy khe hở nơi cúc áo, một phần
thịt trắng nõn nà, lại trăng trắng của dải cócxê...Xấu hổ quá, tôi ngoảnh nằm sang
hướng khác.
Buổi tối cô ấy lại xuống, anh đã ăn
được chưa, em tìm sữa pha cho anh nhé?
Đúng là sốt rét cuối mùa mưa, lán bệnh của
tôi chật ních người, buổi tối chỉ có ngọn đèn dầu leo lét. Háo, tôi thèm một
miếng cam Vinh. Hôm hành quân vào, chờ ở trạm giao liên Hưng Dũng tôi, Quý
Quyết, Công Sơn mua liền nửa gánh cam Vinh giá 3 hào rưỡi/1kg, ăn kỳ hết thì
thôi giờ thèm quá.
Tôi bị sốt rét rất nặng, song không ở thể
rét, chưa bao giờ tôi bị rét run cầm cập cả. Mà ở thể nóng, sốt cao nóng hầm
hập, toàn thân đau nhức rã rời uể oải.
Cô ấy lại xuống, để em bỏ màn cho anh nhé? Cô ấy cẩn thận dắt mấy góc
màn. Tôi bảo đang sốt rét, trong người đầy vi trùng rồi, chả phải phòng muỗi
đốt nữa đâu.
Cô ấy nhoài qua người tôi để dắt màn góc
bên trong. Ối trời ơi, ngực cô ấy
sát ngay trên mặt tôi! Tôi cảm thấy như hai bầu vú to, căng mẩy như hai quả cam
đang treo ngay trên mắt mình. Và tôi như ngửi thấy mùi thơm, mùi thơm toát ra
từ thân thể của một người con gái trẻ trung, căng tràn sức sống, phồn thực. Nói
tôi cảm thấy, là vì tôi đã... nhắm tịt mắt lại rồi.
Sau lớp học bị
sốt rét, tôi vào đội điều trị binh trạm, chưa khỏi tôi đã về. Lại nằm bệnh xá
sư đoàn, cũng lại đã 10 ngày rồi. Đã lại bắt đầu mùa khô, sốt ruột quá trung
đoàn xe của tôi đang gấp rút bước vào mùa vận chuyển mới, tôi lại đòi về...
Buổi tôi về tôi
không gặp lại Lương, cô ấy đang thực hành băng bó.
Sau khi học xong lớp y tá cô ấy được điều về trung đoàn công
binh, và từ đó đến nay đã 35 năm rồi tôi không gặp cô ấy, không rõ gia cảnh em
thế nào, bây giờ em ở đâu?
Có tiếng bảo tôi: Ôi dào tưởng gì, có thế mà đã hơn 30
năm rồi, ông anh băn khoăn làm gì?
Tôi bảo: Không đâu, có những khoảng khắc
những con người mà cả đời người, ta không sao quên được.
Đột nhiên Hùng nói: Em cũng có một cô gái, mà
cho đến bây giờ em cũng không quên được. Cũng đã mấy chục năm rồi, cũng không
rõ cô ấy ở đâu, số phận giờ cô ấy ra sao?
Cũng lại trầm ngâm, Hùng kể: (Tại sao khi
nhắc lại quá khứ, người ta hay trầm ngâm thế nhỉ? À dễ hiểu thôi, vì đó là tình
cảm là quá khứ, là nỗi nhớ.)
-Em chạy giao liên cơ giới. Bên ấy
ngừng ném bom rồi không sợ bom nữa, song em vẫn chạy cả đêm. Bữa đó em chở toàn
chị em ra Bắc, có cả thương binh nữa, tới đèo Phulanhíc em dừng xe cho chị em
xuống nghỉ.
Em đi một vòng ra sau xe, nghe thấy tiếng hát
nho nhỏ:
Tính tính tang tang tình...con chim đrao
xinh hát líu lo ca mừng công anh...
Em đập vào thùng xe: Này, không xuống mà đi
đái đi à, còn ở đó mà tính tính tính?
Anh có biết không, đáp lại là một giọng lạnh tanh phớt đời: Có còn chân đâu mà
xuống?
Ngạc nhiên, em leo lên thùng xe: Nằm trên cái
võng vắt ngang qua hai thành xe là một cô gái, mà hai chân bị cắt cụt ngang
đùi, thoáng nhìn em đã bị xốc.
-Làm sao mà cô bị thế này?...một thoáng im
lặng: - Hỏi chi lạ? mìn.
-Thế cô ở đơn vị nào? - Du kích.
-Quê cô ở đâu? - Hỏi chi mà hỏi lắm ...?
Quảng Đà.
Cô ấy không muốn nói chuyện, dễ hiểu
thôi, một cô gái mà hai chân bị cắt cụt thì cô ấy còn lấy đâu ra hào hứng mà
nói chuyện nữa? Một nỗi buồn, một nỗi thất vọng tràn ngập cả cuộc đời, nhất là
với cuộc đời của một người con gái.
Em để ý cô ấy chỉ chừng 19, 20 tuổi
thôi, rất đẹp! Trăng sáng giữa rừng soi tỏ mặt cô ấy, một khuôn mặt trái xoan,
trắng xanh. Và đặc biệt là đôi lông mày, thế nào nhỉ, như hai vệt thẫm nhung
huyền mềm mại trên đôi mắt đen bồ câu. Có thể nói chưa bao giờ em cảm xúc trước
một cô gái như vậy, một cảm giác đau sâu thăm thẳm vừa luyến tiếc vừa cảm phục,
tiếc quá hai chân cô ta bị cắt cụt rồi.
Bỗng cô bé hỏi em:
- Ra
Bắc còn xa không anh, em muốn được sớm ra Bắc quá.
Không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà em lại
trả lời cô ấy bằng cái giọng tưng tửng mà về sau, không bao giờ em tha thứ
cho mình:
-Xa đấy, tới Quảng Bình là 100 km tới Hà Nội
là 700 km, liệu mà… nằm!
Em hỏi, thế có muốn đi...không, tôi bế?- Dạ.
Vậy là em cúi xuống bế cô bé lên, trời ạ,
người gì mà nhẹ vậy? còn có một mẩu!
Cô bé ngoan ngoãn choàng tay qua cổ em, vừa
có mấy chị em về, em trao cô bé cho họ.
Em còn chạy nhiều chuyến giao liên nữa, ngay lúc đó thì em không để ý lắm,
chiến trường mà, nhưng về tới đơn vị và cho đến tận bây giờ: Hình ảnh cô bé đó,
đôi mắt đó, đôi lông mày đó, và cả đôi chân cụt vẫn ám ảnh em, không thể nào
quên được.
Nhìn những giọt càfê nhỏ tí tách, mà mỗi giọt
là một giây trôi qua, im lặng.
Chúng tôi như cùng một suy nghĩ...
Hùng bảo:
- Em
nói thật nhé, em tiếc mãi là sao mình không hôn cô ấy một cái? Em tin đó là cái
hôn thánh thiện nhất đời em.
-Đúng vậy. Tôi nói và có lẽ mọi người cùng
nhận thấy như vậy.
Biết bao sự hy sinh hồn nhiên và thầm lặng.
Đã hơn 30 năm
trôi qua, bây giờ Em ở đâu?
*************************.. 28.3.2009 Bài viết Nguyễn Sơn NS
Nguyễn Thanh Sơn Phải , Đỗ Thành Hưng , Trần Quý Quyết ( Ảnh
Lê kinh Tuyến )
Cựu học viên C213 khóa 1 học viện K.T.Q.S. V.N
Lũ bạn trẻ cùng trang lứa thoáng chốc đã về già. Tuối già hay nhớ về quá khứ về bạn bè xưa.
Tôi tặng bạn câu chuyện tôi viết tết Nhâm Thìn 2012, có hình ảnh của bạn trong
đó. Giờ lại sắp tết Ất Mùi 2015 rồi!
01.1.2015
N Sơn
Ký
ức thời gian .
Thursday, April 2, 2015
Đỗ Đăng Đích
Tháng tư , những ngày này , đầu tháng của hơn 50 năm về trước ,thời gian là đã trên nửa thế kỷ , nhưng
vẫn còn không phải và gần như kéo ta về
những năm tháng tuổi trể thơ mộng đầy ước mơ hoài bão .
Có ai nhớ về những ngày tòng
quân vào Hải quân Việt Nam quá non nớt
và những người thủy thủ cũng quá non nớt thơ ngây , có lẽ người ta bắt đầu bộ
quần áo lính và ngày tòng quân trong thời thanh bình cũng bình thường , còn tôi
không bình thường như người ta .
Những dòng viết vội này để mà
nhớ lại một thời xa xôi , thanh bình và nghèo nàn trong cái nghèo nàn của Đất
Việt vừa qua ách thống trị của đế quốc mới chỉ trên nửa phần đất nước , nhưng
người Việt sống trên miền Bắc bộ đã thấy tương lai và sung sướng dù trong chân
thanh niên chỉ là đôi guốc mộc và bộ quần áo mới chỉ là vải nâu xồng nhuộm màu
nâu – áo bà ba với mọi nhà , có cái áo như
hôm nay tựa như nay ăn Yến
xào thượng hạng vậy
Cuối tháng 3 - 1962 , tôi được
báo tin đi bộ đội nghĩa vụ , vào thời điểm ấy chính phủ đã có lệnh các Cơ quan
,xí nghiệp không có quyền giữ cán bộ công nhân viên lại mà ai được gọi nghĩa vụ
quân sự đều phải chấp hành , bởi thời kỳ thí điểm đã qua . Khi ấy tôi vừa học xong lớp Thợ Tiện
của bộ công nghiệp nhẹ ___ Trường công nhân Cơ điện mở tại nhà máy liên hợp Dệt
Nam Định , tuy đang còn trong thời gian hưởng lương quy định chưa xếp bậc thợ
theo quy trình đào tạo , tôi đã được giao nhiệm vụ tổ phó Sản xuất xưởng Tiện
cơ khí Dệt Nam Đinh ;được gọi nhập ngũ nhà máy cơ khí cho nghỉ phép và đi chào hỏi chia tay các bác thợ
già , bạn thợ trẻ , Tôi chia tay các bác thợ mà tôi đã dạy bổ túc văn hóa cũng
như các bạn cùng lớp bổ túc cấp 3 và lớp học Chính trị lớp B , nhận những cuốn
sổ quà lưu niệm trước khi rời xa nhà máy
vào quân đội . Sau nghỉ phép tôi đến
nhà máy để đến nơi giao quân , nhưng lại được lệnh hoãn mấy ânh em chúng tôi có
3 thợ tiện , một thợ nguội cùng một thợ xưởng thoi suốt , thay chân chúng tôi
là mấy người khác trong cùng nhà máy cơ khí .
Chiếc ô-tô Hải âu bấy giờ
chở công nhân ở xa đi về , đưa quân đến nơi giao nhận __ Nhà hát nhân dân
gần đó . Mấy anh em chúng tôi được giữ
lại không đi với thông báo : Đơn vị lấy
quân họ không về nhận quân ; dù nghe vậy chúng tôi vẫn lên ô-tô đến nơi giao
quân .
Đến nơi chúng tôi được biết
Các cán bộ của Hải quân về nhận chúng tôi nhập ngũ , không phải như nhà máy
thông báo . mấy anh em chúng tôi bực bội vì bị lừa và hơn nữa mọi việc chia tay
đã chắc chắn để đi làm nghĩa vụ quân sự ,không thể ở lại và chúng tôi quyết
định nhập ngũ .
Sau khi biết chúng tôi quyết
định đi , Bí thư Đảng ủy ra can thiệp với Chính trị viên phó tiểu đoàn huấn
luyên đi nhận quân , thương lượng nhưng Hải quân quyết không nhận người thay
thế nghĩa vụ , bí thư đành đồng ý để một thợ tiện , một thợ nguội nhập ngũ ;
còn tôi thợ tiện – tổ phó sản xuất bé nhất trong 3 thì cả Bí thư và Chính trị
viên đều không thể nhất trí, Chính trị
viên quyết lấy đi , Bí thư quyết giữ lại ;
đi hay ở ; cuối cùng ông Chính
trị viên và bí thư đồng ý đi hay ở là do tôi quyết định . Tôi đã sẵn sàng đi
làm nghĩa vụ quân sự rồi về tiếp tục học tập và lao động cho dù phải phục vụ 4
năm dài hơn 2 năm so với Bộ binh .
Nhà hát nhân dân nơi trao nhận
quân nghĩa vụ đã không còn ai , đã nhận quân xong , chỉ còn tôi và Chính trị
viên cùng Bí thư , bấy giờ tôi đã sẵn sàng từ khi đến xưởng với vài cuốn sách
mguyên lý triết học và sổ tay toòng teng trong túi lưới ni-lon , Ông chính trị
phó tiểu đoàn huấn luyện có xe đạp chở tôi đến nơi nhận quân phục . Về đến nơi
nhận quân phục chỉ còn mình tôi nhận bộ quân phục , giày mũ cuối cùng để chuẩn
bị sớm hôm sau hành quân , đi đâu chúng tôi cũng không biết .
Về sau tôi biết , Mẹ tôi buồn
lắm , Người chỉ biết nằm khóc .vì chỉ mình tôi là con trai mà bấy giờ người ta
thường gọi là nhà con một , đi nghĩa vụ tới 4 năm mới về và 2 năm sau mới được
phép thăm nhà , nghỉ phép .
Vào những năm 62 tàu hỏa chỉ vào đến Bên đây phà Lèn vì chưa
có cầu Hàm rồng , nên chúng tôi qua phà Lèn và bắt đầu 12 ngày đêm hành quân bộ
dọc quốc lộ 1 trong nắng tháng 4 để vào
Nghệ an và trú quân trong nhà dân bên song Lam , bên quốc lọ 8 sang Lào để huấn
luyện bộ binh và chuyên môn trên tàu Tuần la Hải Quân .
Thấm thoắt trôi đi đã không phải
4 năm , mà cuộc chiến tranh giải phóng
dân tộc tiếp tục với cuộc chiến tranh
cống Mỹ , thống nhất đất nước đến 30
thán 4 -1975 đã gấp hơn 3,4 lần nghĩa vụ
người lính thủy trên tầu và Tôi đã gắn đời mình vào Binh Nghiệp __ Sỹ
quan __ Kỹ sư quân sự Việt Nam .
Một năm huấn luyện vất vả trôi
qua , lại trong những ngày tháng Tư , hơn mười anh binh nhất chúng tôi được
phân phối ra căn cứ 1 miền bắc vì chúng tôi được huấn luyện ở Căn Cứ 2 Hải Quân
nằm tong làng dân nằm cạnh quốc lộ 8 sang Lào __ Hưng Nguyên Nghệ an .
Chúng tôi về Hải phòng và ròi
mỗi người xuống những con tàu khác nhau hoặc ở trên bờ sở chỉ huy các phân
đội khu Tuần Phòng Hải Phòng . Tôi và
vài đồng đội nữa được phân về đơn vị vận tải biển và chờ thuyền tạm ở trên bờ
bên Thủy Nguyên Hải Phòng __- Một cảng nhỏ đối diện Nhà máy xi- măng bên bờ
Sông Cấm , ra Bến Phà Bính phải đi dọc đê vài ba Km ; bấy giờ cảng nhỏ này chỉ
có các xuồng nhỏ và chiếc tàu há mồm của Pháp để lại mang số 407 ___ Cảng và sở
chỉ huy của Đoàn tàu không mang số hiệu __ Đoàn không số . Mấy anh em chúng tôi
ở bờ đợi tàu nên vẫn được chế độ ăn Hải
táo của lính dưới thuyền tuy nhên thấp hơn đồng đội ở tàu tuần la 79 . chúng
tôi đợi tàu và tập chống say sóng với các dụng cụ đơn giản như vòng lăn , cầu
sóng và thể dục chống sóng để chuẩn bị
đi biển trên những con tàu sẽ lênh đênh trên biển . Chúng tôi cũng chờ
nhận nhiệm vụ cơ điện tàu vận tải mới không phải tàu tuần la tốc độ cao mà là
tàu nhỏ vận tải máy và hệ thống điện sẽ được học bổ túc , đồng thời được phổ biến những yêu
cầu khi đi làm nhiệm vụ và chúng tôi ra phố Hải Phòng được mặc thường phục .
Khoảng thời gian của Tháng
Tư bắt đầu mùa hạ , Thành phố Cảng với
chúng tôi trở nên thân thiết , là Thủ đô của chúng tôi , bến bờ . mái nhà trên
đất liền của chúng tôi , chúng tôi đinh ninh như vậy . Hải phòng trong những
ngày thanh bình phố xá đông vui , chúng tôi vô tư hòa vào dòng phố thanh niên
trong chiều thứ 7 , Chủ nhật cũng vô tư với những bản nhạc La Paloma vang trên
trước cửa các rạp chiếu phim lớn . Đường
phố Hải phòng đầy tiếng nhạc và thời gian ấy chỉ Hải Phòng mới đủ các
loại sắc phục của lực lượng vũ trang Hải lục không quân và bộ đội biên phòng .
Tháng 4 hải phòng rộn rã , Trên
Cảng vắng , tôi được giao nhiệm vụ trong khi chờ tàu là lái xuồng gỗ gắn máy
đẩy đưa các cán bộ chỉ huy đi ngang Sông Cấm sang Bộ Tư lệnh mỗi khi các Thủ
trưởng đi họp . Rồi những ngày tháng 4 chờ tàu , tôi lại được cử về Hà Nội để
học văn nghệ phục vụ cho quân đội thời bình và các đoàn công tác trong quân đội
thời bình . Tôi cũng không hề nghĩ đến
sẽ được về Thủ đô HANOI
.
Rời Hải phòng về Hà Nội học tập
ít ngày , tôi được lệnh tập kết tại sân bay Bạch Mai . Đến HÀ NỘI tôi đi bộ đến
sân bay Bạch Mai bấy giờ nằm sâu trong phần đất xa mặt đường phố gần ngay phi trường bỏ hoang cỏ
mọc có mấy gian nhà trống , về đây tôi gặp lại vài đồng chí cùng huấn luyện tân
binh ở miền trung ra . Dưới nắng chang chang của tháng tư , trong lòng sân bay Bạch
Mai bỏ hoang , một lớp lính chúng tôi , toàn là binh nhất , hạ sỹ của toàn quân
được tập trung và ngủ trên những tấm phản cá nhân , bữa cơm mang bát đến nhà ăn
tạm với chế độ đại táo trên bờ và học cho thuộc Hai bài hát “ Giải phóng Miền
Nam “ của Huỳnh Minh Siêng và bài “ Cờ Ba nhất “ , cộng vào đó là học Sáng tác Múa Tập thể ;
giáo viên là các anh chị lớn tuổi hơn chúng tôi ba bốn tuổi , chúng tôi cũng
không biết Họ từ đâu đến , nhưng đều là những diễn viên ca hát , sân khấu và có
chị nói là học ở Liên –xô ( CCCP ) tới 6,7 năm , Lớp học chỉ chừng hơn vài
tháng và nhiệm vụ của chúng tôi về đơn vị sang tác những điệu máu tập thể để bộ
đội sinh hoạt văn hóa của bộ đội thời bình , đồng thời phổ biến , lan tỏa bài
ca chính thức của “ Mặt trận giải phóng “ là bài “ Giải phóng Miền Nam “ . .
Chúng tôi được học chính là
những động tác Cơ bản cho sáng tác múa tập thể , những động tác cơ bản để tạo
nên điệu múa , tuy nhiên là ít ỏi và cơ bản nhất , cùng với học hát , học thuộc
một điệu múa , và học về nhạc lý cơ bản __ Nốt nhạc và hát âm . .
Những tháng 4 đầu hè đáng nhớ
ấy còn theo bước chân chúng tôi trên các
nẻo đường của tổ quốc , hải đảo , núi rừng Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc ,
Và rồi , cũng những ngày tháng
tư , tôi về đoàn không số chờ tàu , nhưng số phận và yêu cầu thay quân của đoàn
vận tải , vì tôi đã có thực tế một công nhân cơ khí nên lại được điều động rời
đoàn không số xuống tàu há mồm __ Tàu Tan-kit nhỏ của Trung Quốc và đi vận tải
biển với nhiệm vụ lính máy và cơ điện hạm thuyền .
Những năm tháng tuổi trẻ và
những ngày tháng tư , tháng năm của một thời hòa bình trong bộ quân phuch lính
thủy là như vậy . Tháng tư và đất cảng Hải Phòng với hải quân chúng tôi có thể
không bao giờ quên một thời trai trẻ với bài hát “ Nhổ neo ra khơi “ . mà Tư
lệnh trưởng bấy giờ là Thiếu Tướng Tạ
Xuân Thu __ Một vị Tướng nghe nói từ
Pháo Binh chuyển sang .
Rồi Tháng Tư
1975 , trên đất Thủ Đô HANOI , trong nhiệm vụ một Sỹ Quan Kỹ Thuật _ Kỹ
sư quân sự ở Cơ quan cục , chúng tôi lại
mở bản đồ quân sự để theo dõi cuộc tiến công thần tốc đến giải phóng SAIGON ,
Lúc đầu chúng tôi dung bản đồ 1/%0 về sau để theo dõi địa danh vị trí sát hơn
chúng tôi treo bản đồ 1/25 và nhận tin từ Cục Tác chiến thông báo từng chiến
điểm và quyết chiến điểm dọc miền trung trong đèo Hải Vân cho tới cửa ngõ Sài
Gòn ; Chiến thắng đến đâu là lại thêm một hình vẽ lá cờ Mặt trận lên địa danh
đó của bản đồ quân sự mà mãi về sau
chúng tôi được biết gọi là “ Chiến dịch Hồ Chí Minh “ mà trực tiếp Tướng Võ
Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo , chiếm thời cơ thần tốc giải
phóng miền nam thống nhất đất nước . Bây
giờ lại sắp đến kỷ niệm giờ phút thanh bình vĩnh viễn 11h 30 ngày 30 tháng 4 –
1975 .
Năm nay , lại sắp đến ngày kỷ
niệm chiến thắng 30 tháng 4 , nhưng nó không còn hào hứng như mấy chục năm
trước , không phải trong lòng cựu chiến binh chúng tôi mà cả trong các tầng lớp
nhân dân . Có thể nhân dân chờ đón những đổi thay và chiến thắng mới trong xây
dựng đất nước và cuộc sống thanh bình
giàu có . cho nên , cái không khí của Kỷ niệm chiến thắng đã trầm xuống
đưa người ta về với những ký ức xa xăm không thể nào quên những năm tháng tuổi
trẻ đầy gian nan , vất vả mà nỗi nhọc nhằn ,,chịu đựng đặt lên vai không chỉ
quân đội nhân dân Việt Nam mà là đặt lên vai cả một lớp thanh niên và nhân dân
Việt Nam , dân tộc Việt Nam trong những
năm cuối của thế kỷ 20 .

Với tôi và có thể với nhiều người , Tháng Tư không chỉ là mùa Phượng Vỹ thơ
ngây ,mùa của những con Ve Sầu mà còn là
mùa oi nóng của một thời thanh xuân đầy nhiệt huyết . mà những ngày cuối tháng
cùng với những ngày thượng tuần của Nó
làm ta ùa đến bao ký ức , kỷ niệm của những năm dài đã qua . ‘\’./.
1 CHÍNH
TRỊ VIÊN CỦA
TÔI
***
Đỗ Thành Hưng
Trước
ngày đi B, tôi được bổ nhiệm làm đại đội trưởng, tôi dọn về ở cùng phòng với
chính trị viên Đng Đức Sỹ để hai anh em tiện bàn bạc, trao đổi công việc, phân
công nhau chuẩn bị mọi mặt cho đơn vị để lên đường đúng ngày giờ quy định. Thời
gian chuẩn bị chỉ khoảng bốn tuần. Chúng tôi quá bận, không có thời gian về từ
biệt gia đình dù chỉ một nửa ngày là đủ. Tôi và anh Sỹ cũng chưa kịp tìm hiểu
kỹ về nhau. Ban ngày cũng ít khi được ngồi ăn cơm với nhau, ai về trước thì ăn
trước. Buổi tối chúng tôi trao đổi công việc đã làm trong ngày và thống nhất
công việc ngày mai. Tối đến, mệt mỏi vì lo toan suốt cả ngày, chúng tôi hỏi về
nhau dăm ba câu rồi mỗi người đắm vào suy tư của riêng mình và chìm sâu trong
giấc ngủ. Tôi biết anh đã có vợ và hai con, gia đình ở Uy Nỗ, Đông Anh. Anh đi
bộ đội từ những năm 59-60, dáng người to cao, khoẻ mạnh, chắc chắn, cằm hơi
bạnh, vẻ mặt cương nghị. Dáng làm quân sự hơn là làm chính trị. Tôi hình dung
dạng người và khuôn mặt khá giống Nguyễn Kháng Chiến ở tiểu đội tôi thời đi
học. Chiều ngày 15/12, sau khi tổ chức kết nạp Đảng cho tôi, anh và cậu liên
lạc tên Nguyện, quê Chương Mỹ cùng vài anh em nữa, lên xe của Trung Đoàn sang
Vĩnh Yên nhận tám xe bọc thép BTR-60 BP phối thuộc cho đại đội tôi để chở quân
đi B. Đêm khuya ngày 16/12, đoàn xe phối thuộc cho đại đội về tới Xuân Mai, tôi
vẫn chong đèn ngồi đợi. Một dáng người to cao, áo quần xốc xếch, chật căng,
chân đất, tay xách đôi giày đen bước vào phòng. Anh quăng đôi giày xuống đất,
nét mặt căng thẳng, hầm hầm. Tôi nhận ra anh nhưng gương mặt rắn rỏi, cương
nghị của anh hàng ngày - gương mặt người chính trị viên của tôi sao lại thay
bằng gương mặt lạ lùng vậy? Anh không nói không rằng và ngồi xuống ghế. Tôi
chưa hiểu điều gì, chưa kịp hỏi anh có chuyện gì thì cậu Nguyện liên lạc bước
vào, cũng áo quần xốc xếch, chân đất, gương mặt thất thần, tái mét, một bên mắt
và má trái tím bầm, sưng húp. Tôi vội chạy lại đỡ Nguyện ngồi xuống ghế và hỏi:
- Sao thế này hả Nguyện?
- Dạ! Em bị chính trị viên đạp vào mặt ạ!
Nghe vậy
máu trong huyết quản tôi thấy nóng dần. Tôi liếc nhìn anh và ném về phía anh
một cái nhìn trách móc và có phần giận dữ. Một ý nghĩ rất nhanh trong đầu tôi:
Một cán bộ, một Đảng viên, một sỹ quan mà đánh lính trước giờ ra trận thì dù
bất luận đúng sai thế nào cũng không thể chấp nhận được! Hình ảnh người chính
trị viên, người giới thiệu tôi vào Đảng mà thế này ư? Xử lý sao đây?
Tôi còn đang mông lung, bối rối thì anh mở tủ
rồi đi lại phía tôi và Nguyện. Anh đưa tôi hộp dầu cao sao vàng và nói:
-
Anh Hưng, xoa
nhẹ cái này cho cậu ấy giúp tôi!
Trang 2 / 7
2
Rồi anh
gọi cậu liên lạc của tôi lấy nước nóng, pha muối, vò khăn chườm cho Nguyện. Lấy
quần áo ấm cho Nguyện thay. Sao nhỉ? Chuyện gì đây?
Tôi thật không hiểu gì cả! Anh lấy quần áo của
mình thay bộ quần áo chật căng chắc không phải của anh. Tôi thật sự bối rối.
Tôi vội thay ấm trà pha nước mời anh để
hỏi sự
tình, uống ngụm trà ấm rồi anh rành rọt nói rõ ngọn ngành. - Đoàn xe của mình
đi qua bến phà Mía, xe tôi ngồi, bơi tới giữa sông thì nước tràn vào, không rõ
vì sao? Chắc do động tác lái không đúng. Cậu lái xe và trưởng xe bật cửa nhảy
ra. Xe chết máy và chìm rất nhanh. Tôi kịp bật cửa pháo thủ nhảy ra, Nguyện ở
trong cũng lần được cửa pháo thủ trồi lên. Trong đêm tối có nhìn rõ cái gì xung
quanh đâu! Nghe tiếng kêu cứu, thuyền của dân hai bên sông chèo ra cứu kịp cả
bốn chúng tôi. Ông tính, rét thế này bao nhiêu áo ấm mặc cả vào người, lại đôi
giày cô-sư-ghin chết tiệt như đeo đá vào chân, không thể tháo ra được. Tôi chỉ
kịp cởi phăng cái áo bốn túi, cái áo len, vừa bơi, vừa kêu cứu. Bỗng thấy loằng
nhoằng ở chân, tôi biết là Nguyện cố bíu chặt chân tôi trong cơn hoảng loạn.
Tôi lấy hết sức bình sinh đạp cậu ấy thật mạnh, cậu ta buông chân tôi ra....
Nguyện
chen vào:
- Em bị
choáng, chỉ còn lơ mơ thấy ai túm tóc em.
Anh nói
tiếp:
- Lúc ấy
cứ đạp thôi, biết chỗ nào mà tránh, rồi tôi túm tóc cậu ta, tôi bơi có một
tay.
Cũng
may, tôi có một thời gian ở vùng sông nước, lại có sức khoẻ, biết bơi, có chút
kinh nghiệm cứu người khi cùng bị đuối. Không để cho họ túm được mình trong cơn
hoảng loạn. Nếu không thì chết cả hai. Tháng này nước sông Hồng cạn, lưu tốc
nhỏ chứ mùa mưa lũ thì thầy trò tôi chắc không còn thấy được anh em!
Lên
thuyền, Nguyện bị ngất, bụng no căng, sau khi làm động tác cấp cứu kịp thời,
cậu ta dần tỉnh lại, mặt còn xanh lét kia kìa!
Tư
trang, giấy tờ, trang bị còn ở cả dưới lòng sông. Phải lấy tạm quần áo của anh
em mặc đỡ. Lúc lên bờ mới thấy cái lạnh thấu da, thấu thịt.
Ôi! Thì
ra là vậy! Tôi thật là hồ đồ đã thầm trách nhầm anh. Tôi thấy mắt cay cay không
biết vì xúc động hay ân hận vì phản ứng nông nổi của mình khi sự việc chưa biết
rõ ràng.
Anh đã
làm một việc diệu kỳ, vượt qua cái chết nhưng không quên đứa em, người đồng đội
của anh, của chúng tôi. Giá phải như tôi trong trường hợp này chắc tôi và cậu
liên lạc đã đi toong là cái chắc. Tuy ở vùng quê nhưng tôi không biết bơi, biết
lội. Mỗi lần ra ao tập bơi, cả hai tay, hai chân tôi vẫy đạp tứ tung,
Trang 3 / 7
3
loạn xạ,
mà bọn trẻ con chúng tôi thường gọi là kiểu bơi chó! Tôi chả biết bơi ếch, bơi
bướm là gì. Sau này vào chiến trường, tôi có nghe nói BTL-TG đã trục vớt chiếc
xe ấy, cụ thể thế nào tôi không rõ.
Sáng
17/12, tôi nhận được lệnh ngày lên đường nhưng giờ G chưa xác định, đơn vị được
lệnh cấm trại, nay gọi là giới nghiêm.
Ngày 17
và 18/12, anh Sỹ sao lại toàn bộ giấy tờ, sổ sách của đơn vị, từ hồ sơ lưu trữ
của tôi. Anh tâm sự:
- Mọi
thứ sổ sách, giấy tờ mình làm lại được, quân tư trang trung đoàn trang bị lại.
Mình chỉ tiếc mấy tấm ảnh của vợ con, gia đình và vài kỷ vật vẫn còn trong xe
chìm dưới đáy sông.
Tôi
vâng, dạ tỏ ra đồng cảm với anh, nhưng thực lòng tôi đâu có hiểu hết tình cảm
của anh. Bởi tôi chỉ có chiếc ba lô, tình cảm với mẹ và gia đình thì ai chẳng
có. Một vài bóng dáng người con gái nào đó mơ hồ, lãng đãng, không rõ nét ở
tuổi trưởng thành là lẽ bình thường, không nhẹ nhưng cũng chẳng nặng gì đối với
tôi. Làm sao tôi hiểu được cái tình, cái nghĩa vợ chồng, cha con ở nơi anh. Anh
sắp
phải
xa... xa lắc... xa lơ... chưa hẹn ngày trở lại.
Trưa ngày
18, đại đội 11A của Hồ Tiến tổ chức liên hoan chia tay với đại đội 11B chúng
tôi. Tối đó, trung đoàn tổ chức chiếu phim chiêu đãi. Chưa xem hết phần phim
thời sự, khúc mở đầu mỗi lần xem phim thời ấy, thì phía Hà Nội rực trời cháy
đỏ. Đạn pháo phòng không, tên lửa đan chéo nhau kín cả trời đêm. Tiếng máy bay
gầm rít chói tai, buổi chiếu phim phải huỷ. Tiếng bom gầm ,đạn réo suốt đêm.
Ánh sáng đèn dù, pháo sáng lúc tỏ, lúc mờ, chập chờn như ma quái. Ánh sáng của
thần chết đang gieo rắc khắp nơi.
Sáng hôm
sau thức dậy, đất trời vẫn bình yên như đêm qua chỉ là một cơn ác mộng. Tối qua
không mở được đài tiếng nói Việt Nam. Sáng nay tôi mở đài sớm mới
biết Mỹ đánh bom huỷ diệt Hà Nội bằng cả máy bay B52.
Khoảng 8
giờ sáng, tôi nhận được lệnh giờ "G" từ trung đoàn chuyển xuống, tôi
và anh
Sỹ thống nhất phát lệnh sẵn sàng lúc 15 giờ cùng ngày. Trưa đó, tôi và anh Sỹ ở
nhà vì mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất. Bữa cơm trưa cậu liên lạc mang về có mấy
món trông ngon mắt. Anh Sỹ lấy ra bi-đông rượu, không biết anh có từ lúc nào.
Rót ra hai chén, anh nói với một giọng thân tình:
- Ông
Hưng à, ban chỉ huy đại đội có tôi và ông, ông chỉ huy làm tốt công tác bảo
đảm kỹ
thuật trong hành quân. Tôi và anh em vào thẳng nơi tập kết trước, sẽ chuẩn bị
nơi ăn ở chu đáo chờ đón ông và đồng đội, chúc thắng lợi nào!
Trang 4 / 7
4
Tôi và
anh cụng chén, anh uống ực một cái, phả tiếng "khà khà, chép chép".
Tôi
chỉ nhấm
môi, xin phép khất anh vì từ trước tới giờ tôi không uống được rượu.
Xin khất
anh vào tới chiến trường sẽ cạn chén cùng anh.
Chiếc
đài Orionton mới toanh vừa được trang bị lại đang phát bản tin. Vừa ăn,
chúng
tôi vừa nghe phát thanh viên thông báo thắng lợi giòn giã của quân và dân
ta, bắn
rơi cả pháo đài bay B52... Rồi sự tàn phá, chết chóc ở nơi này, nơi kia
quanh Hà
Nội. Anh uống thêm chén thứ hai, rồi chén thứ ba để sẵn trên bàn như
chờ tôi
cùng cạn. Tiếng cô phát thanh viên như nghẹn lại, khi đọc họ tên những người bị
thương, bị chết... tối qua theo thống kê ban đầu chưa đầy đủ. Bỗng bát cơm trên
tay anh để bịch xuống bàn, đôi đũa rơi xuống mặt bàn, phát ra hai tiếng khô
khốc, ghê ghê, rồi lăn xuống nền nhà. Anh ngồi ngây ra, mắt mở to như trợn
trừng rồi từ từ khép hờ lại. Đôi tay anh run run, đang quờ quạng như tìm kiếm
cái gì! Tôi hốt hoảng:
- Anh
Sỹ! Anh làm sao vậy?
Tôi vội
chạy sang phía anh, anh không trả lời, anh vịn vai tôi từ từ đứng dậy. Tôi đỡ
anh bước ra khỏi ghế, anh tựa vào thành giường rồi đổ kềnh như cây chuối bị
chặt gốc. Đôi giày cô-sư-ghin cũng không kịp tháo ra, anh lắp bắp chẳng rõ tiếng
gì và run run chỉ về phía chiếc đài. Chắc anh nhức đầu muốn bảo tôi tắt đi, tôi
với tay tắt máy.
Anh nằm
ngửa, mắt nhắm hờ, tay vẫn nắm chặt tay tôi.
- Anh để
tôi gọi y tá.
Anh bóp
chặt tay tôi ra ý không cần:
- Tôi
đưa anh đi trạm xá cấp cứu nhé!
Anh lại
bóp chặt tay tôi, hơi kéo lại, tỏ ý không cần thế. Anh nắm chặt tay tôi như
không
muốn rời ra, không muốn xa tôi, hình như anh sợ mất tôi, sợ sự trống vắng, cô
đơn...?
Tôi
không dám rút tay ra, cứ để yên như vậy, nhìn anh thiêm thiếp. Trong đầu tôi
thoảng qua sự lo sợ, rồi nghi ngại... Chả nhẽ anh bị ngộ độc rượu?... Hay là...
Hay là... Ở đâu đó, tôi có nghe nói có người tự gây thương tích để có cớ
"B quay" mà thường là những người có vợ, có con như anh.
Nhưng
anh là một Đảng viên? Một sỹ quan? Một chính trị viên cơ mà? Chả nhẽ...?
Chả
nhẽ...? Mà từ hôm hai anh em được bổ nhiệm đến giờ, anh cũng như tôi rất tích
cực, luôn sát cánh bên nhau chuẩn bị, tổ chức mọi mặt cho đơn vị, chẳng có biểu
hiện gì? Tôi với anh tuy: "đôi bên chức tước, chẳng kém chi nhau"
nhưng tôi luôn coi anh là người anh, là trụ cột của đơn vị. Anh không chỉ là
chính trị viên của đại đội mà còn là chính trị viên của riêng tôi.
Trang 5 / 7
5
Tôi hơn
anh về mặt chuyên môn, kỹ thuật, còn mọi mặt chỉ huy, tổ chức... đối nhân xử thế,
tôi phải dựa vào anh. Con người đã có cả chục tuổi quân, đã kinh qua nhiều chức
vụ, từ tiểu đội trưởng đi lên. Có bản lĩnh chỉ huy, lãnh đạo hơn hẳn tôi - một
cậu học trò mới ra trường, nhờ được học hành mà nhảy cóc từ binh nhất, binh
nhì, lên thẳng sỹ quan. Vài tháng làm kỹ thuật viên rồi lên thẳng đại đội
trưởng, đâu đã am tường cuộc sống, am tường công tác chỉ huy, lãnh đạo như anh.
Hay
là?... Hay là?... Hay là anh biết tôi còn ngây ngô, cả tin, dễ giận, anh diễn
kịch
với tôi.
Tới sát giờ "G" anh mới dở chứng để có cớ "B quay"? Hay chả
nhẽ rượu độc do anh tự pha, tự chế để kiếm cớ thoái lui? Thế thì may cho tôi
rồi! Tôi chỉ mới nhấm môi thấy cay cay thôi. Nếu đúng anh muốn "B
quay", tôi sẽ lấy giấy giới thiệu vào Đảng của tôi, tự tay tôi gạch tên anh,
người giới thiệu thứ hai vào Đảng của tôi ngay trước mặt anh! Hình như những gì
tốt đẹp nhất anh để lại trong tôi hơn hai tháng qua, những gì tôi ngưỡng mộ và
học tập ở anh, hy vọng sự dìu dắt của anh để tôi trưởng thành đang bắt đầu tan
chảy...
Tôi đang
đắm chìm trong nỗi suy tư, bế tắc không có câu trả lời trước sự kỳ quặc
của
anh... Bỗng hai khoé mắt anh chảy dài hai dòng nước mắt. Hình như anh đang cố
nén một cái gì sâu thẳm trong tim? Anh buông tay tôi rồi ngồi bật dậy,
rút khăn
tay lau mắt. Hình như có gì quá xúc động với anh chăng? Anh phải lịm đi không
nói thành lời. Sau hồi trấn tĩnh, anh đã trở lại bình thường chăng? cầu trời
như vậy! Anh nhìn tôi và nói tôi gọi cậu liên lạc của tôi cho anh. Anh bảo cậu
liên lạc dọn cơm đi, dù bữa cơm chúng tôi mới và được vài ba miếng. Tôi pha ấm
trà mới cho anh, thấy anh thì thầm gì đó với cậu liên lạc:
- Anh Sỹ
à! Anh đã khoẻ chưa? Chỉ còn vài giờ nữa là tới giờ "G" rồi đó anh!
- Ừ! Nhớ
rồi! Tới giờ "N+1" ông phát lệnh cho các trung đội nhé!
Tôi thấy
anh lau bàn rồi cầm chiếc bát ra ngoài đi đâu đó, một lúc sau anh mang vào lưng
bát gạo và một cái đĩa con không biết để làm gì? Anh diễn trò gì nữa đây?
Hai
chúng tôi ngồi uống nước, tôi không dám hỏi gì chuyện anh bị xỉu lúc vừa rồi.
Một phần
sợ anh khó trả lời nếu anh định..., phần muốn anh tỉnh táo hẳn mới hỏi rõ nguồn
cơn. Thấy anh tỉnh, tôi đã yên tâm một chút, nhưng vẫn thấp thỏm, không biết
anh còn giở chứng gì không? Giờ "G" sắp tới, tôi đi một vòng xuống
các trung đội dặn dò các trung đội trưởng và thông báo chính thức giờ
"G". Lúc quay về, vừa tới cửa phòng, tôi giật thót mình. Trong đầu
tôi muốn hét lên: "Anh Sỹ! Anh làm cái gì thế này? Anh điên rồi à? Muốn
"B quay" thì nói toạc ra! Anh cúng bái cái gì trước giờ ra trận thế?".
Nhưng
may quá, tôi mới chỉ nghĩ, chưa kịp phát thành lời thì cậu liên lạc của tôi ra
giấu để tay trước miệng: yên lặng! Tôi đứng ngây ra nhìn người chính trị viên
xì sụp khấn vái giữa khói hương nghi ngút với bát nhang bằng bát ăn cơm, một
đĩa hoa rừng, chắc cậu liên lạc của tôi hái vội đâu đó cho anh, ba chén rượu
lưng
…Trang 6 / 7
6
lưng,
một phong lương khô mới bóc. Tôi đứng nhìn anh và nghe anh lầm bầm khấn vái
điều gì đó... Khoảng năm ba phút sau, anh lấy khăn tay lau nước mắt.
Lấy lại
bình tĩnh và chúng tôi cùng ngồi xuống bên bàn, tôi chờ đợi sự giải thích của
anh. Anh tợp một ngụm trà rồi nói với tôi:
- Ông ạ!
Tôi bị xúc động đột ngột quá, đau đớn quá, không nói được thành lời.
Lúc trưa
nghe đài, xã Uy Nỗ của tôi bị B52 rải thảm. Trong số người bị chết có họ tên ông
bố vợ tôi, em vợ tôi và mấy người bà con họ tộc. Không biết vợ con tôi có việc
gì không? Miếng cơm vừa và vào miệng thì tắc nghẹn khi nghe tin dữ... Chắc
ông
tưởng tôi bị cảm?... Tôi chỉ chiếc đài ý nói hãy nghe tin thì ông không hiểu
lại tắt đi. Tin đau buồn quá, nhưng giờ "G" đã đến, không thể về qua
nhà được. Tôi thắp mấy nén nhang xin tạ lỗi với nhạc gia và dòng họ, cầu mong
vong linh những người tử nạn tối qua phù hộ cho anh em, đơn vị mình hoàn thành
nhiệm vụ. Đó là cách tốt nhất để trả mối thù này! Ông lo toan mọi việc nhé, tôi
tranh thủ viết mấy dòng gửi lại, may ra vợ con, gia đình tôi nhận được.
Tôi sững
người, đứng dậy ôm chầm lấy anh. Tôi khóc. Khóc vì xúc động, vì đồng
cảm với
nỗi đau của anh. Khóc vì ân hận tôi đã nghĩ sai về anh, về một con người đầy
bản lĩnh nhưng rất mực tình người! Tôi khóc để thay lời xin lỗi anh. Tôi tự
trách tôi hồ đồ, nông nổi. Đây là bài học thứ hai, tôi nhận ra điểm yếu của
mình, của người sỹ quan trẻ thường phản ứng nhanh nhưng thiếu bình tĩnh và chín
chắn trước một sự việc bất thường.
Đặng Đức
Sỹ! Anh không chỉ là người anh, người đồng đội, mà còn là người thầy của tôi về
cách đối nhân xử thế, tính cách chững chạc, điền đạm cần thiết của người cán
bộ.
Như một
phản xạ tự nhiên, tôi đến trước bàn thờ đơn xơ mà anh vừa lập. Chắp tay vái lạy
hương hồn những người quá cố, trong đó có người thân của anh vừa ra đi vĩnh
viễn bởi bom đạn kẻ thù... Tôi thông báo và cho mời các trung đội tới vái vọng,
chia sẻ nỗi đau buồn của anh ngay trước giờ ra trận.
Đúng
19h30, khi những viên đạn lửa phòng không đầu tiên sáng rực, bay vút lên
như xé
rách màn đêm, cũng là lúc tôi bắt chặt tay anh, ôm chặt lấy anh, tiễn anh lên
xe dẫn quân vào tuyến lửa. Chúng tôi hẹn đón nhau ở chiến trường.
Bộ phận
của tôi đi sau cùng, 21h30 chúng tôi mới có lệnh xuất phát.
Thời
gian này Mỹ tập trung vào Hà Nội nên trên đường đi vắng bóng máy bay của không
lực Hoa Kỳ. Chúng tôi đi khá nhanh và an toàn. Qua đất bạn Lào, bắt đầu gặp máy
bay của không lực Sài Gòn, đã đôi lần chúng chao lượn trên đầu nhưng không ác
liệt như không quân Mỹ. Đã vài lần tôi nghe tiếng bom rền nhưng không rõ từ
đâu. Đêm đêm có nghe tiếng máy bay mà anh em binh trạm nói là C-130 đi tuần
tiễu, lâu lâu có tiếng súng: "Cắc-thùng! Cắc-thùng!..." như tiếng
trống cầm canh từ máy bay bắn xuống.
…Trang 7
/ 7
7
Rồi một
ngày cuối tháng 1/1973, tôi nhận được tin dữ: bộ phận C11-B bị tập kích bom bi,
anh Sỹ và vài chiến sỹ của tôi bị thương phải vào bệnh viện, anh Sỹ bị khá
nặng. Khi vào tới căn cứ, tôi hỏi Nguyện, cậu liên lạc của anh. Nguyện chỉ biết
anh bị thương nặng khi vào viện và không biết gì hơn vì phải tiếp tục hành
quân. Thế là đại đội tôi mất người cán bộ năng nổ, tận tâm, dày dạn kinh nghiệm
chỉ huy, tổ chức. Tôi thấy hụt hẫng khi thiếu anh, thiếu một chỗ dựa tinh thần.
Tai hoạ chết người, nỗi đau mất mát quá lớn liên tiếp đến với anh nhưng vẫn
không cản được bước chân người sỹ quan can trường và mẫu mực. Nhưng hòn tên,
mũi đạn đã bắt anh phải bỏ dở cuộc hành quân cùng chúng tôi đến ngày toàn
thắng. Sau hoà bình, những lần ra hội họp ở BTL-TG, tôi hỏi thăm nhưng không ai
biết anh ở đâu? Đã về đâu?...
Qua dòng
hồi ức về anh, nếu anh còn, anh hãy liên lạc với tôi qua điện thoại. Tôi xin
được cạn nốt chén rượu nghĩa tình với anh mà hơn bốn mươi năm trước, thời trai
trẻ tôi còn khất nợ anh, dù bây giờ tôi vẫn không uống được rượu.
Nếu con
cháu anh đọc được những dòng hồi ức của tôi viết về anh, các cháu có quyền tự
hào về một người cha, người ông đã có "một thời như thế đó". Đó là
cái thời của thế hệ chúng tôi, và nhiều thế hệ đã có một thời như thế và phải
như thế đó!
Dẫu sao
họ tên anh vẫn hiển hiện trong lý lịch Đảng của tôi:
- Người
giới thiệu thứ hai: chính trị viên đại đội - thiếu uý - Đặng Đức Sỹ.
Vẫn còn
đây!
Đỗ Thành Hưng B5-C213
Sài gòn, 19/11/2013
Đt: 0908106399
Ảnh Bảo
tàngP.K.K.Q V.N HANOI 2015
CHUYỆN DÔNG DÀI NGÀY TẾT
Nguyễn Thanh Sơn
Cái anh tết Nhâm Thìn – 2012 này, được nghỉ
dài ngày thật. Trước giao thừa được nghỉ 2 ngày, trùng với thứ bảy, chủ nhật,
sau giao thừa được nghỉ 3 ngày: thứ 2, thứ 3, thứ 4 vậy là 5 ngày. Do trùng với
2 ngày được nghỉ thứ 7, chủ nhật nên được nghỉ bù vào 2 ngày tiếp theo là thứ
5, thứ 6 vậy là được nghỉ 7 ngày. Sau 2 ngày nghỉ bù đó lại là thứ 7, chủ nhật
– được nghỉ, lại nghỉ - vậy là cái anh tết Nhâm Thìn này được nghỉ tổng cộng 9
ngày, dài quá.
Được nghỉ càng dài ngày càng tốt chứ sao? Kêu dài, là dài
ngày so với Tết Quý Hợi – 1983 được nghỉ có một ngày rưỡi, trước giao thừa được
nghỉ nửa ngày, tức là được nghỉ bắt đầu từ chiều 30 tết. Nhớ tới ngày tết đó:
Sau buổi sáng vẫn làm việc, chiều bắt đầu được nghỉ. Mọi người nháo nhào về
nhà, người thì đi xếp hàng mua hàng tết theo tem phiếu: Một ít bóng miến, một
ít lá dong, 2 bao thuốc lá Tam Đảo, một gói chè Hồng Đào…người thì vội lau dọn nhà
cửa, cắm lọ hoa, cành đào… rồi thì tắm rửa, chưng diện những bộ quần áo
đẹp nhất…rồi thì giao thừa…Hôm sau, mồng 1 tết được nghỉ, người ta còn ngủ rốn
tới khoảng 8h sáng - Trước lúc đó ai mà có dịp ra phố mới thấy thủ đô mới thanh
bình, trinh nguyên ra sao, ôi những khoảng khắc thanh thản đến tuyệt vời! Rồi
người dân đổ ra đầy đường, mồng 1 lễ cha, mồng 2 lễ mẹ, mồng 3 lễ thày dồn tất
cả vào buối chiều. Khuôn mặt người dân sáng ngời hạnh phúc, gầy nhưng không
yếu, nghèo nhưng không hèn. Họ chúc tụng nhau đầu năm đẻ con trai cuối năm đẻ
con gái…rồi sáng sau, mồng 2 tết lại đi làm. Nghỉ ít thôi, tranh thủ thời gian
mà làm, có làm nhiều mới ra nhiều sản phầm cho xã hội, mới đỡ khổ - đúng quá đi
chứ - các vị lãnh đạo nghĩ vậy, và họ phát động người dân: Mỗi người làm việc
bằng hai.
Có người tranh luận với tôi: Là cái tết chỉ
được nghỉ có một ngày rưỡi đó là tết năm 1985?
Ôi quan trọng gì, tôi có phải là người viết
lịch sử đâu, tuổi già nhớ nhớ quên quên, chỉ biết là đã có một thời như vậy.
Song như vậy còn là sướng lắm. Còn gọi
là được nghỉ tết, còn có gia đình, chứ hồi ở chiến trường có được
nghỉ tết đâu, ngày tết là nỗi nhớ nhà, anh em đồng đội quây quần bên nhau. Và
ngay ngày chủ nhật cũng làm gì được nghỉ, nên chúng tôi gọi là ngày thứ 8.
Cái tết Quý Mão - 1963 tôi 15 tuổi, cùng lũ bạn học
chúng tôi kéo nhau lên bờ hồ Hoàn Kiếm đón giao thừa. Ngày đó tết ở Hà Nội là
phải lên bờ hồ Hoàn Kiếm đón giao thừa mới gọi là tết. Tết lạnh, ăn mặc phong
phanh, song phải có pháo. Tiếng pháo nổ xóa tan nỗi cô đơn nghèo nàn, gắn kết
mọi người lại với nhau. Bấy giờ hai bên phố Hàng Bài bắt đầu từ quá rạp Tháng
8, là mấy khu tập thể có tường lửng vây quanh trên là chấn song, họ ngồi bên
trong bán pháo. Mọi người thò tay qua chấn song đó mua pháo, 1 hào 2 quả pháo
tép, 2 hào một quả pháo đùng loại nhỏ. Còn pháo đùng loại 5 hào là to lắm, khi
đốt, mọi người vừa bịt tai, vừa chạy dạt ra. Lạ thế đấy, sợ song vẫn thích.
Bấy giờ bố tôi mới đi công tác CHDC Đức về,
ông cho tôi hộp pháo hoa. Mà lạ, pháo gì mà chỉ như đoạn nan hoa xe đạp, dài
chỉ khoảng 10 phân? Để dành mãi, để tối giao thừa ra bờ hồ đốt. Đẹp thật, nó
bắn tung tóe ra chung quanh, sáng vàng rực rỡ. Thằng Tâm cầm chạy, mọi người
kêu: Cháy, cháy! Chúng tôi vô cùng thích thú.
Quanh bờ hồ dày đặc người là người, người đi
tới - có gì mà tới? Người đi lui - có gì mà lui? Song họ vẫn đi, bao năm rồi họ
vẫn đi như vậy, tết mà, ra bờ hồ mà đi.
Mấy thằng học sinh chúng tôi đi tới phía bên
kia bờ hồ, chỗ mà bây giờ là cổng siêu thị Intimex ấy, thấy hai thằng nhỏ cỡ
tuổi bọn tôi, lễ mễ bưng ra một quả pháo cối to bằng cái phích nước sôi. Chúng
nó đặt ngay quả pháo dưới lòng đường nhựa, châm lửa đốt! Ối trời ơi, riêng đoạn
dây cháy chậm đã to như đoạn dây thừng buộc trâu, dài cỡ 1m, có lẽ phải đủ dài
cho chúng nó còn kịp chạy. Vậy là không ai bảo ai tất cả lùi lại, thành một
khoảng rộng, mấy cô gái hét lên sợ hãi. Còn bọn con trai chúng tôi, cũng lùi
song không quá xa để mang tiếng là nhát, bụng vẫn bảo dạ là liệu có sao không
nhỉ. Đúng là dây cháy chậm thủ công, cháy đùng đùng rồi lại leo lét, rồi lại
cháy đùng đùng…ngọn lửa đã leo tới miệng quả pháo…có lẽ sau tiếng nổ này, trái
đất sẽ ngừng quay?- Đẹt! té ra là một quả pháo tép. Bấy giờ mọi người phá lên
cười lên vui vẻ. Hai thằng nhỏ nhô từ sau gốc cây ra lấy lại quả pháo, có lẽ nó
lại đi nghịch ở nơi khác, đúng là nhất quỷ nhì ma…
Tiếng loa phóng thanh treo khắp quanh hồ phát
ra tiếng chuông điểm nhịp thời gian: Boong -12 giờ rồi, giao thừa rồi! Pháo nổ
trong loa phóng thanh, khắp bờ hồ đốt pháo. Hàng Ngang, hàng Đào đốt pháo, phố
nhà giàu có khác, có những dây pháo dài từ tầng hai xuống chạm đất. Hòa
trong tiếng nổ lẹt đẹt vội vã của pháo tép, lại xen lẫn tiếng nổ đùng của pháo
cối.
Bỗng từ loa phóng thanh phát ra câu nói ấm áp:
Đồng bào và chiến sĩ cả nước yêu quý…
Ôi, tiếng bác Hồ, bác Hồ chúc tết! vậy là
không ai bảo ai, tất cả đứng im phăng phắc, thành kính đón nghe tiếng bác Hồ
chúc tết, cả bờ hồ đông đúc náo nhiệt như vậy, mà giờ đây im lặng như nghe thấy
cả tiếng lá rơi.(Cho mãi tới sau này khi đã ở lứa tuổi tri thiên mệnh, tôi
vẫn nghĩ đến hiện tượng này: Đó là lòng thành kính, như một tín ngưỡng tâm
linh… và tôi hiểu, thế nào là lãnh tụ!).
Lúc vui nhất là lúc nên về nhất, tất nhiên,
mọi người ra về mấy đứa học sinh chúng tôi cũng về. Dọc đường đi thì rơi rụng
dần, tới Lê văn Hưu thì Cảnh về, Hoạt về Phùng khắc Khoan, Thích về tập thể nhà
rượu…còn lại một mình, song tôi chưa vào nhà, ngồi mãi nơi vỉa hè…
Tết này tôi 15 tuổi, tôi không thích người ta
gọi là trẻ con nữa, mà ở thời kỳ đó đã bắt đầu gọi là thanh niên. Rồi 25 tuổi,
liệu lúc đó tôi đã lấy vợ chưa nhỉ, xấu hổ quá…Rồi 45,55 già vậy ư? Già hơn cả
chú Có, chú Tiếp à? Rồi 65, ôi trời ơi, già hơn cả bố tôi bây giờ sao? Vậy thì
lúc đó bố tôi ở đâu? Tôi không dám nghĩ tiếp, và tôi…làm thơ:
Đì đùng pháo nhỏ
nổ cùng to,
Hương pháo tung bay khắp mọi nhà.
Tết đến, xuân về, xuân lại lại,
Có thấu lòng người khi lại một xuân qua?
15 tuổi, đúng là ông cụ non.
Học trên tôi mấy lớp có anh Bùi Minh Quốc,
bấy giờ thơ anh đã nổi tiếng lắm rồi:
Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy,
Thì xa xôi gấp mấy cũng lên đường.
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương,
Ngàn khát vọng chất chồng mơ ước lớn!
Ôi, lên đường - Đi! (đi đâu?) Hướng
đời đã thấy (hướng đời là cái gì? Thấy, thấy cái gì?) chả biết, cứ đi
đã! ( Nàng thơ như một cô gái
đẹp kiêu sa, vẫy gọi đấy mà mơ hồ đấy, làm cả đời lận đận chạy theo - Cái tuổi
trẻ, bao giờ cũng là tuổi trẻ, tội nghiệp!)
Tiếc là bây giờ không được đốt pháo nữa, trong cái được
cũng có cái mất, còn lại là lòng hoài niệm.
Tôi đã đi bộ đội, cái tết Quý Sửu -1973, lúc đó tôi
là đại đội trưởng của một tiểu đoàn anh hùng bộ đội Trường Sơn. Đơn vị tôi lúc
đó đóng ở ngã 3 Lùm Bùm, mút đường phía bên kia đường 20 Quyết Thắng. Tôi 25
tuổi rồi, đâu còn là một cậu học sinh măng tơ nữa. Rừng Trường Sơn gian khổ và
chiến tranh ác liệt đã biến tôi thành con người khác: Khuôn mặt xương xương, da
thâm tái vì sốt rét, mặc quần áo bộ đội đã bạc màu…may là trong huyết quản còn
chảy bầu máu nóng.
Bom đạn địch đánh ác liệt, những nỗ lực
cuối cùng của kẻ địch hòng ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược, và vì vậy chúng
tôi luôn căng thẳng như sợi dây đàn. Tôi luôn mang theo một khẩu tiểu liên AK
báng gấp, ở mặt trận mà mang súng ngắn thì như mang trò chơi vậy. Bị đánh tắc
đường, nổ 3 phát. Có thương binh, nổ 4 phát. Có tử sỹ, nổ 5 phát! Thành quy ước
rồi, lính công binh không biết từ đâu đội đất chui lên cứu chúng tôi.
Đi lên tiểu đoàn giao ban, bao giờ tôi cũng
gặp anh Cau đứng đợi đầu dốc. Cau là chính trị viên đại đội 1, anh ấy có cái
đài National 3 băng, và khi gặp tôi Cau đều sôi nổi kể tin tức thời sự mà đêm
qua anh ấy nghe được, bấy giờ chúng tôi quan tâm nhất tới hiệp định Pari về
ngừng bắn ở Lào.
Hiệp định Pari được kí kết, bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 27.1.1973, thì chập tối 26.1.1973 anh Cau hy sinh trên đèo Văng Mu,
trong một trận đánh phá cuối cùng của máy bay địch, cái đài National cũng không
còn nữa. ( Biết bao người hy sinh
trước giờ chiến thắng! 40
năm đã trôi qua, mà tôi chưa qua nhà thắp cho anh Cau một nén hương, mà cũng
chả biết nhà anh Cau ở đâu, đất Vĩnh phúc thì rộng lắm. Bây giờ nhà cao cửa
rộng liệu còn ai nhớ đến anh Cau?)
Cái đêm giao thừa ấy, rơi vào đêm 2.2.1973,
yên tĩnh đến lạ thường, tôi và anh Chiu, chính trị viên đại đội đi kiểm tra bãi
xe: Bảo anh em nghỉ sớm một tí, đêm nay giao thừa rồi.
Có lẽ không nên kể qúa tỉ mỉ cái tết ở chiến
trường, cũng có lọ hoa - hoa rừng, chả nhớ là hoa gì, cứ đỏ đỏ vàng vàng là
được. Cũng có kẹo - kẹo anh em tự chế bằng sữa bột trộn với lương khô, đun sôi
rồi cho nhỏ xuống nước lạnh vón lại thành những viên tròn tròn, kiếm giấy màu
vê lại bày lên đĩa thành kẹo tết…Và ở đâu cũng vậy, cái hầm của ban chỉ huy đại
đội thành thủ đô, giống như bờ hồ Hoàn Kiếm đêm giao thừa vây. Lính tráng kéo
đến, leo lên ngồi chật giường, tựa lưng vào vách đất nghe đài. Góc kia thì đánh
“Tiến lên”ồn ào…Bên trong cái vẻ tỏ ra là ồn ào ấy, là một nỗi buồn xa gia
đình, một nỗi bâng khuâng ngày tết của các chàng lính trẻ. Lúc ấy chúng tôi trẻ
lắm, tôi thiếu úy đại đội trưởng, 25 tuổi. Anh Chiu thượng sỹ chính trị viên,
29 tuổi. Anh Luyện thượng sỹ, đai đội phó người Hải phòng, 28 tuổi.Trong chiến
trường chả ai đeo quân hàm, vớ vẩn, song vô cùng dũng cảm và tận tuỵ vượt mọi
khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Hơn 80% cán bộ đại đội – đại đội cao xạ, đại đội
công binh, đại đội xe, đại đội giao liên…là thượng sĩ, anh Cau cũng vậy, lác
đác có anh chuẩn úy, thiếu úy. Tôi dám cá là thiếu tá sau này không hơn anh thượng
sỹ chúng tôi hồi ấy, có hơn là chỉ lương cao hơn thôi. Cấp trên “chặt chẽ” quá,
đành rằng hy sinh tất cả vì độc lập tự do…
Hơn 11 giờ đêm rồi, căn hầm tôi nồng nặc
khói thuốc, ngày tết hậu cần cấp cho mỗi người một bao Tam Đảo, hút đến đau cả
ngực, mệt mỏi.
Anh Khoa xuống, chả nói chả rằng kiếm cái
điếu cày, và bắt đầu sọc sọc…Năm đó anh Khoa đã 46 tuổi là xã viên hợp tác xã
nông nghiệp ở Vĩnh Bảo Hải Phòng được động viên đi bộ đội, vào chiến trường anh
làm chiến sỹ nuôi quân đại đội tôi. Già rồi nuôi quân càng tốt, để rút chiến sỹ
trẻ ra đi chiến đấu. Chả phải nói, cả đại đội ai cũng kính trọng anh, cái tuổi
bậc cha bậc chú ấy, lại tính tình điềm tĩnh.
Buông điếu cày, anh Khoa nói nhát gừng: Báo
cáo đại đôi trưởng…không chỉ tôi, mà tất cả đều lắng nghe xem anh Khoa nói
gì:…rồi anh Khoa lại nâng điếu cày lên, lại sọc sọc…: Đề nghị đại đội trưởng cử
cho tôi 3 người, ra bìa rừng…cùng tôi…kéo con nai về đây.
Tôi hỏi lại :
- Có thật không đấy?
Tôi không ngờ là anh Khoa lại phản ứng:
- Tôi ngần này tuổi rồi, mà còn nói đùa à?
Vậy là chả ai bảo ai, mà cũng chả phải phân công cắt cử gì,
tất cả ùa ra khỏi hầm ban chỉ huy, họ chạy về “nhà” xách súng đi săn.
Tôi ngủ rất say, chừng
7h30 thì tỉnh giấc.
Yên tĩnh đến lạ thường, mọi khi tầm giờ này
thì máy bay trinh sát OV.10 đã oo trên đầu, tiếng ô tô gầm rú leo dốc, không có
cả đến tiếng người. Tiếng OV.10 ấy, oo từ sáng tới tối, từ ngày này sang ngày
khác như có con ve trong tại rất khó chịu, giờ không có nó lại thấy chống
chếnh? lạ thế đấy.
Có lẽ mọi người cho rằng tôi sẽ tả cái buổi
sáng mồng một tết Quý Sửu này, nó thanh bình đến nỗi chỉ có tiếng chim kêu,
vượn hú, tiếng suối róc rách? Không có đâu, rét quá, im lặng quá.
Tôi leo ra khỏi hầm nhìn quanh, lính tráng
đâu cả rồi? Ối trời ơi, mấy con nai nằm ngang ngửa trên khoảnh đất trước hầm
ban chỉ huy, 4 con cả thảy, nằm như những con bò.
Tôi vội gọi:
- Anh Chiu ơi, anh lên mà xem này.
Chiu thò đầu lên, dụi mắt:
- Gì thế? Và cũng ngạc nhiên:
-Ừ nhỉ, làm thế nào bây giờ?
Anh em đi săn suốt đêm về, ngủ say:
-Thì cứ báo hậu cần tiểu
đoàn, báo các đơn vị đến lấy thịt nai về ăn tết!
Có lẽ chúng tôi là những người đầu tiên được sống cuộc sống
của chủ nghĩa cộng sản, không gì là của riêng ai cả, mà cùng vui với thành quả
săn bắn hái lượm. Các đơn vị cử người và xe đến chở nai về ăn tết, đơn vị chúng
tôi chỉ giữ lại một con, ồn ào vậy mà anh em vẫn ngủ.
10 giờ sáng thì anh em dậy cả, vừa tíu
tít làm bữa cỗ đầu năm, vừa say sưa kể về chiến tích đi săn đêm qua. Nhà nào
(tức hầm nào) tự làm lấy cỗ của mình. Riêng ban chỉ huy, y tá, liên lạc, tổ
nuôi quân tất nhiên là cả anh Khoa rồi, làm một cỗ. Chúng tôi sắp củi trước cửa
hầm, đốt lên như lửa trại. Anh Khoa bắc lên cái chảo quân dụng, đục cả thùng mỡ
9,9 kg đổ vào (sau này tôi vẫn thắc mắc là sao lại làm 9,9kg mà không làm 10
kg cho chẵn?). Tôi điện mời anh Giáo tiểu đoàn phó, thì anh Giáo kêu: Cũng
đang chết dở với thịt nai của ông đây!
(Kể thêm một tí cho vui, chuyện dông dài
ngày tết mà: Anh Giáo là người dân tộc mường song khôn ngoan lắm, nên tôi hay
trêu là Giáo C. Vì máy bay ném bom chiến lược B.52 mà cải tiến thành B.52C nó
ghê gớm lắm, người dân tộc mà còn kinh hơn người Kinh! Mới một tháng trước, anh
Giáo bị bắn: Anh ấy đi săn ngay sau tiểu đoàn bộ, vừa từ hố bom leo lên thì bị
bắn. Do cậu Tài cơ công cũng đi săn, thấy đèn đội đầu lại tưởng mắt nai(!) May
mà viên đạn trúng vào khe nách, khẩu súng mà anh Giáo đang kẹp nách bị vỡ báng,
bị thương nhẹ song được một phen hoảng hồn, nên tôi mời mà anh Giáo không nhiệt
tình là phải.)
Tôi ngồi bên cái đùi nai, đã được anh Khoa
rạch tách da, lộ ra một tảng thịt đỏ au còn hấp dẫn hơn cả thịt bò. Anh Khoa
cắt ra một miếng lớn, thái thái, rồi hất cả vào chảo mỡ. Cũng rất nhanh, anh
Khoa cầm đũa vớt ra, đặt từng miếng vào mỗi bát chúng tôi, ân cần bảo: Ăn đi.
Cỗ tết thì phải nói tới rượu, có thể nói
người nông dân Việt Nam ở bất cứ đâu, đẻ ra là đã biết nấu rượu. Huống hồ gì
chúng tôi là người khắp các miền quê lại có phương tiện kĩ thuật trong tay: nồi
chưng cất, ống ruột gà…tự làm ra hết. Cái khó là men, thì chúng tôi đã có men
lá đổi cho người Lào, men lá thì rất được rượu, có điều uống xong thì rất nhức
đầu. Kệ!
Gắp một miếng thịt nai còn nóng hổi, chấm vào
bát muối trộn mì chính (tiếc là ở chiến trường không có chanh) cho vào
miệng nhai nhồm nhoàm, lại tớp một hụm rượu: Ngon!
Lịêu tổng thống Mỹ có sướng hơn tôi lúc này
không?
Chúng tôi ngả nghiêng, trời đất ngả nghiêng…40 năm rồi, tôi
còn ngả nghiêng.
Một tháng sau, cả đơn vị tôi
được điều vào tăng cường cho trung đoàn 98 công binh, riêng tôi bị giữ lại. Anh
Luyện được giao thay tôi làm đại đội trưởng, tôi được bổ nhiệm trưởng ban kỹ
thuật. Từ đó tôi không gặp lại anh Khoa, anh Chiu và mọi người nữa…
Cái anh tết Nhâm Thìn-2012 này dài quá, nghỉ
những 9 ngày. Bây giờ mỗi tuần được nghỉ hai ngày: thứ 7, Chủ nhật như Tây, lại
tết nghỉ những 9 ngày, chứ không như hồi năm 1983 tết được nghỉ có một ngày
rưỡi. Vậy mà xã hội đầy hàng hóa, mua gì cũng có, chỉ sợ không có tiền, lạ thế
đấy. Té ra để có nhiều sản phẩm, không
phải là ở làm nhiều, mà là ở cách làm.
Nghỉ 9 ngày song tôi không đi đâu cả, đi chơi
thì phải có tiền, cái anh thương phế binh như tôi thì lấy tiền đâu mà đi du
lịch? Vì vậy mà tôi ngồi viết, hy vọng trong tràng giang đại hải này, con cháu
nó nhặt được cái vẩy vàng: Bài học cuộc sống.
Lạ
thế đấy, hồi ở chiến trường xa quê hương, xa gia đình mà chúng tôi thấy
ấm áp. Mà giờ đây, ở giữa đô thị, ở giữa mọi người mà sao tôi thấy lẻ loi?
Tôi lại nghĩ tới câu thơ Bút Tre mà tôi
tâm đắc. Đừng nghĩ là tôi thích vớ vẩn, tôi biết là nhà thơ nổi tiếng Trần Đăng
Khoa đã chê: Bút Tre không phải là thơ, một loại hò vè gì đó… Không sao, tôi
thích là được, và liệu có ai hiểu được là vì sao tôi tâm đắc không?
Thi đua ta quyết thi đua
Thi đua ta quyết vươn lên hàng đầu,
Hàng đầu chả biết đi đâu
Đi đâu chả biết, hàng đầu cứ đi!(?)
Cũng nói đôi điều về Bút Tre để tri ân ông
ấy: ông tên thật là Đặng Văn Đăng nguyên trưởng ty văn hóa (bây giờ gọi là giám
đốc sở) tỉnh Phú Thọ những năm 60, và chính ông ấy là người ghi lại câu nói nổi
tiếng của bác Hồ:
”Các
vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Cái tết Nhâm Thìn này, tôi sang tuổi 65. Tuổi già như xuống dốc không
phanh, mới tết đấy lại tết. Trẻ con sao hiểu được câu “Thời gian như bóng
câu bay qua cửa sổ”.
Chú Tiếp chết rồi, chú Có cũng chết rồi…Tôi lại nhớ tới câu thơ tôi đã
anh em
thay nhau lái. Về tới Cẩm Thuỷ, tôi lại cho anh em vào nghỉ ở trường cấp một
Cẩm Thuỷ. Khỏi cần nói, mấy cô giáo vui mừng đón bọn tôi như người thân trở về.
Các cô xúm xít giúp chúng tôi nấu cơm. Biết là bữa cơm chia tay để bọn tôi về
đơn vị, các cô góp gạo nấu cơm chung, vừa chuẩn bị đồ ăn thức uống, vừa chuyện
trò rôm rả. Tôi cho anh em lấy thêm một số thực phẩm hộp để bữa ăn thêm thịnh
soạn. Rồi chúng tôi chia tay các cô trong sự bịn rịn, lưu luyến. Không thể
thiếu tiết mục trao gửi địa chỉ cho nhau và hẹn ngày gặp lại. Không nói các bạn
cũng đặt câu hỏi vậy tôi có gì
không?

Trang 15 / 19
15
Vâng!
Tốp thợ và lái xe của tôi tuổi mới mười tám, mười chín, tình cảm của họ rất vô
tư, trong sáng đúng nghĩa. Còn tôi với giác quan nhạy cảm của mình, tôi cũng
nhận ra sự lưu luyến của các cô giáo tập trung vào viên chuẩn uý-kỹ sư-kẻng
trai-thư sinh như Trung nói, đang ở độ tuổi 25. Nhưng tất cả cái tôi cần, rất
cần là đối tượng Đảng! Tôi nén mình giữ hình ảnh đẹp trong mắt anh em: là một
cán bộ vẹn tròn để họ là người tác động vào những cánh tay sẽ biểu quyết kết
nạp tôi vào Đảng ngày mai.
NHỚ VỀ TRƯỜNG XƯA
Sài Gòn Summer 2014 nhớ đến
ngày về Trường
Mùa hè năm nay vào tiết trời tháng 7 , Sài Gòn mưa nắng thất thường và
những cơn mưa có khi kéo dài cả giờ đồng hồ cùng theo nước triều cường từ biển
nên không tránh khỏi nhiều đường phố ngập nước , nhất là nơi chỗ tôi _ Thủ Đức
. Tuy thế , đất Bắc có thể nóng nực nhưng nơi đây về đêm vẫn cần một chiếc chăn
mỏng sẽ dễ chịu hơn khi ngủ .
Vào Sài gòn , gặp lại đồng
đội tôi __ Học viên khóa 1 Đại học Kỹ thuật Quân Sự V.N ( nay là học viện cùng
tên ) , chúng tôi không hội họp được tất
cả những đồng đội đang thường trú tại S.G vì mỗi người tuy tuổi cao nhưng còn
nhiều công việc đang làm ; bởi thế lần này chỉ họp nhau được 5-6 người . Thế
thôi nhưng chúng tôi sống lại cả một thời gian khó và sôi nổi dưới mái trường
Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.N . .
Chúng tôi tựu trường trong các
điều kiện rất khác nhau , Người thì từ Quân chủng Không quân , người thì từ
Quân chủng Hải Quân , người thì từ Trường Phổ Thông Trung học của Quân đội __
Trường Nguyễn Văn Trỗi __ Khóa 1 , người thì từ Công binh , người thì từ Pháo
binh …
Tôi và Nguyễn Tuấn , Nguyễn
Nước ,Vũ Huân từ quân chủng Hải quân . Tôi còn nhớ mãi những năm tháng Hải Quân
và ngày về trường của chúng tôi .chúng tôi từ X 48 , X46 đưa về trường .
Tôi còn nhớ , : Vào một sớm mùa
hè cách đây đã 48 năm . chừng nửa buổi sáng , tôi đang trên rừng tìm kiếm tre
nứa về làm doanh trại và ngụy trang máy
móc đang để ngoài trời cũng như những mái tôn nhà xưởng dựng dưới chân núi ven
bờ Hạ Long nép mình vào dẫy núi Quang Hanh thì được Liên lạc của Khu vực gọi về
gặp Thủ trưởng . Thế là , ngay trưa đó cơm trưa xong ,chúng tôi nhờ xe vận tải
về Bãi Cháy và chiều thì nhờ chuyến Tầu Tuần la về Hải Phòng ,chúng tôi về trạm
đón tiếp của Quân chủng bên Thủy Nguyên – nơi sơ tán .
Vài hôm sau chúng tôi lại có
mặt ở Bãi Phúc Xá – Hà Nội Khu vực của
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã bỏ trồng để đi sơ tán đâu đó . Dừng chân ở
đây tôi nhớ có đoàn Hải quân của chúng tôi và lác đác vài đoàn khác , rồi dừng
chân chưa đến 1 tuần lễ chúng tôi lại hành quân về Ngải Dương __ Hưng Yên ,
cách Ga Như Quỳnh mấy thôi đường làng .
Bấy giờ tôi cùng Tiểu đội với Đỗ Thành Hưng đang ngồi đây , Nguyễn Đình
Thắng từ Trường N.V.Trỗi , cùng Nuyễn
Văn Tân Hải Quân X 46 …
Ở Ngải Dương , chúng tôi được ôn
tập và kiểm tra văn hóa . Đợt kiểm tra đầu tiên , ai không đạt yêu cầu thì được
học trọn một ngày không phải lao động xây dựng
trường lớp hoặc giúp dân ; còn ai đạt được yêu cầu thì được ôn tập nửa
ngày . Rồi, kiểm tra lại chính thức trước khi Khai giảng năm học .
Đoàn Hải Quân chúng tôi có
Trinh không đủ điểm để theo học , nhưng
Trường cho lựa chọn : hoặc về đơn vị hoặc vẫn theo học và cố gắng theo kịp đồng
đội ; ; bấy giờ __Khóa 1 không có khóa
Dự bị như các khóa sau __Dự bị tại trường ., nhưng Trinh chọn con đường quay về
đơn vị cũ .
Bởi vì khóa của chúng tôi đều
được tuyển chọn từ các Quân , Binh chủng khắp toàn quân về học khóa đầu tiên
mang tên Trường Đại học Kỹ Thuật Quân Sự V.N . ( Thuở khai sinh ,gọi là Phân
hiệu 2 Đại Học Bách khoa Hà nội , có 2 khóa chuyển tiếp và họ ra trường trước chúng tôi 2 năm và nhận bằng
tốt nghiệp của Bách khoa H N )
Thấm thoát đã 48 năm từ ngày
về trường . nay 5 6 chúng tôi mỗi người
một một khác nhau trong nhiệm vụ sau khi ra trường và rồi đều đi trọn cuộc kháng chiến hoàn
thành cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước ; nay mỗi người lại vẫn
tiếp tục những ngày nghỉ hưu cũng khác nhau , người thì trở thành Kịch Tác gia
, người thì trở thành Võ Sư YOGA ngườn thì thành chủ trang trại vẫn cầm vô lăng
ô-tô riêng , người là những giảng viên
Trường Đại học , người là Cán bộ Khoa
học . ..
Ngồi bên mâm cơm trong khách sạn Sài Gòn chúng tôi
không khỏi bùi ngùi khi nhớ và nói đến các Đồng Đội đã ra đi vì bệnh tật và
tuổi tác đã từng trải trên dọc đường
Trường Sơn hoặc trên Đất Bắc dầy đạc đạn bom khốc liệt .
NamDinh city Aug 2014
****************.
Photograph taken by CÔng_ Bằng Hà nội _
At
Ha noi May 2014_ KỸ SƯ Trưởng Đỗ đăng đích
___________________________________
Truyện Người Thật việc Thật .
________________________.Theo
bài niết của
Đỗ Thành Hưng
Trở về quá khứ với kỷ niệm không quên của một thời xa xưa , nhất là một
thời nước sôi lửa bỏng , khói bom ngút trời mà chính ta là người trong cuộc với
bao bước đi dũng cảm hào hùng và trong sáng ,xuân của “thời con gái “ còn “như
cây lụa trắng ‘ , “ chưa lấm bụi trần “ , không phải là nuối tiếc hay ân hận ,
u hoài , mà là làm cho cuộc sống hôm nay trong trẻo hơn , ý nghĩa hơn và hơn
hết là quên đi tạm thời những gì là bất cập , nhiễu nhương , vẫn lạc quan trẻ
trung dưới đám sương mờ trong ngày nắng tươi tắn hoặc trong đêm thu lạnh lẽo
không ánh trăng suông hoặc dưới màu hoàng hôn tím ngắt đến nao lòng với bao nhớ
nhung và yêu thương bất diệt .
Sài Gòn đã sang Thu , cái nắng không còn gay gắt
và mưa rào cũng ít bất chợt ngắn ngủi và
lại có những cơn mưa hàng giờ đồng hồ cùng với triều dâng nước ngập tràn một số
nơi trũng thấp như Thủ đức ,Bình Thạnh .
Tuấn __ Người đồng đội Hải
quân với tôi , Dân Hà nội đã trở thành Người Sài Gòn nhiều năm nay , chở tôi
đến nhà Nguyễn Nước cũng đồng ngũ Hải Quân
đồng nghiệp đồng ngũ trong Đơn vị Hải Quân trước khi chúng tôi được đưa
về Khóa 1 Đại học kỹ thuật quân sự ( Nay gọi Học Viện cùng tên ) ;rồi chúng tôi
cùng nhau uống trà ở một nhà hàng cạnh
Thảo cầm viên ,. Nguyễn Nước phone cho Vũ Huân , Chiến và Hưng , đang ở nhà gần
đó còn Tùng Sơn ở Biên Hòa không đến
được ;thế là chúng tôi chỉ có 6 anh em gặp nhau trò chuyện sau một chặng đường
ai cũng đã đi trọn cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thống nhất đất nước
trong nhiệm vụ người lính và Kỹ sư quân sự Việt Nam . từ những ngày đầu thành
lập Học Viện .
Nói thì như vậy , nhưng để có
đước cuộc hàn huyên chúng tôi cũng tốn cả buổi sáng vì Sài Gòn rộng nên cần có một hành trình vận trù nho nhỏ
giữa các phố Sài Gòn với Ô – Tô riêng của Hưng và Xe máy, rồi mặt trời đứng
bóng sớm trong mùa thu
Việt Nam , và chúng tôi cùng ngồi lại với nhau trong bữa trưa cùng với
những kỷ niệm xa xôi tràn về , lại cũng
nhân vì Nghiêm Sỹ Chúng __ngành Súng bộ binh cùng khóa chúng tôi có gửi Email cho chúng tôi về Hồi ký cá nhân
về những kỷ niệm năm tháng dưới và sau khi rời học viện , Hưng đưa tặng tôi mấy
tập hồi ký của anh về những năm tháng trong và đã ra trường , lăn lộn trên
chiến trường nam bộ , dọc đường Trường Sơn .
Đọc những trang viết của Hưng
sau khi chia tay ở nhà hàng Sài gòn và còn đọc thêm vài lần ở Nam Định , càng
hiểu thêm và kỹ hơn về đồng đội cùng lớp người trong chiến tranh giải phóng
dưới ngọn cờ của Đảng Lao Động Việt Nam
( nay gọi là Đảng Cộng sản ) . Thiết nghĩ , những trang viết sẽ gieo vào lòng
người đọc những mến thương và cảm phục lớp người đã từng lớn lên từ trên ghế
Trường Trung học phổ thông cho đến những người từ đồng ruộng ra đi làm nghĩa
vụ quân sự của thanh niên từ thời thanh bình cho đến thời chiến tranh
khốc liệt nhất mang tính hủy diệt đối với tổ quốc thân yêu bé nhỏ nghèo nàn của
mình . Có lẽ ,tuy là cá nhân nhưng
cũng đủ nói lên những gì cần cho cả lớp người chúng tôi mà chỉ bây giờ mới sáng
rõ đáng để bạn bè , các thế hệ non trẻ hôm nay đang trước một tương lai khoa
học kỹ thuật quân sự mới và tiên tiến của Việt nam hôm nay biết những gì
trên chặng đường đã đi , gian khổ vất vả
của kỹ thuật quân sự trong thời xa xôi tưởng như đã đi vào dĩ vãng .
Tôi không có khả năng viết
những chuyện Hưng kể thành truyện tiểu sử hay truyện về người thật việc thật
mang tính chất văn học , nên đành viết nguyên những gì mà Hưng đã kể , đã viết
, có thể cũng là cách tốt nhất và cũng là trung thực nhất , cũng hàm đủ tính
văn học rồi .
Trước mắt tôi bỗng hiện ra
hình ảnh Hồ Tiến từ đại học Cáp Nhĩ Tân
Trung Quốc về học tiếp năm thứ 2 ,vì Cách mạng văn hóa của trung hoa năm
đó , Hồ Tiến trung đội trưởng kiêm chức
ngành Ô-Tô- ---Tăng xích khi đã phân
ngành cùng Hưng là học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi khóa 1 ; hai người đồng đội
của tôi cũng như tôi , từ những đơn vị khác nhau trong toàn quân về khóa 1 ở
những tuổi quân khác nhau , tuổi đời cũng khác nhau nhưng đều còn rất trẻ và
trẻ nhất ngây thơ nhất là lớp học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi __ Trường Trung học phổ thông của Quân đội N.D V.N bấy
giờ , Một cặp đôi trong học tập phấn
đấu của những học sinh trường Nguyễn Văn Trôi ngây thơ non trẻ học giỏi và một
đảng viên Đảng Lao động V. N Lính nghĩa
vụ lâu năm 1959 .
… Hưng tâm sự
về những ngày đi học : ((
“ Mồng 1 tháng 8 1966 , hơn 50
người chúng tôi của 2 lớp 10 đầu tiên trường Nguyễn Văn Trỗi nhập ngũ . Đầu tháng 9 tất cả đều vào trường Đại Học Kỹ Thuật Quân SỰ V.N mới
thành lập từ Phân hiệu 2 Đại Học Bách khoa Hà Nội ; chúng tôi được chia lẻ để được
ở với các anh ở đơn vị chiến đấu trong toàn quân được tuyển lựa về theo học
khóa đầu tiên của Trường . So với các anh
được chọn về , thì Tôi và Nguyễn Đình Thắng cùng Trường Trỗi ở cùng Tiểu đội năm thứ nhất là trẻ tuổi nhất . Những ngày đầu nghe các anh xì xào , chỉ
trỏ bọn tôi là bọn “con ông cháu cha “ , thực tình ngày ấy tôi chẳng có khái
niệm gì về cái danh được các anh gán cho ,; bởi vì chúng tôi ở trường chơi bình
đẳng với nhau vô tư như các trường phổ thông
khác , đành rằng , tôi biết :Bố tôi là Sỹ Quan thường thường bậc trung ,
đi B như bao các chú , các bác bộ đội khác ; rồi tôi có xe đạp Thống nhất , có
dép nhựa Tiền phong, dép rọ Trung Quốc , giầy da lộn , đài Sonny bán dẫn ,
,đồng hồ Poljot , là mhững thứ Bố tôi để lại nhà khi đi B và tôi tự trang bị
cho mình . . Bấy giờ , tất cả những thứ ấy là cả một tài sản to lớn đối với các
anh ở đơn vị chiến đấu được chon về học
khóa 1 này , cả lớp chỉ có vài ba anh quân nhân chuyên nghiệp là có xe đạp mà
thôi ; vì vậy trong mắt các anh , bọn tôi thuộc một lớp giới khác và gán cho
danh “ C.O.C.C “ – là vậy .
Trong thời gian ở Trường ,
tôi khá thân với Sơn con một gia đình
giáo chức khá mẫu mực , , Công Sơn được
kết nạp vào Đảng ở năm cuối còn tôi được
2 đảng viên ngay từ khi vào trường là Hồ Tiến và Vũ Đức Bang __ từ Hải quân về
trường ở cùng một nhà kèm cặp phấn đấu
vào Đảng khi đã phân ngành Ô-Tô __ Tăng-xích ; ngày ấy , tôi được chỉ định làm
cán sự một vài môn tôi học giỏi như LÝ , Kim tướng , nhưng tôi nghĩ vào Đảng là
‘ đỏ” nhưng đỏ làm gì , chỉ cần “chuyên “ tức là học giỏi , đỏ thì cũng phải
học cho giỏi , kiếm lấy điểm 5 tuyệt đối
mà về chơi Hà Nội ,” đỏ “ cũng chẳng khỏe được hơn đâu . Chắc bị nhiễm
máu “C.O.C.C “ nên tôi coi thường việc vào đảng ; trong khi đó năm cuối Sơn vào
Đảng và vẫn thường khuyên tôi chịu khó rèn luyện ; Bởi vì Sơn cũng tuổi tôi
thôi nhưng chững chạc hơn ; mỗi lần về Hà Nội tôi đều ghé qua nhà Sơn ở Phố
Trần Xuân Soạn và cũng ngưỡng mộ gia đình giáo chức mẫu mực _ cái nôi của Sơn .
Ra trường sau lễ tốt nghiệp có
Tướng Vương Thừa Vũ và Tướng Trần Đại Nghĩa Tham dự làm lễ tốt nghiệp cho những
cánh chim đầu đàn Kỹ thuật Quân sự do Việt Nam Đào tạo trong nước tung đi mọi
miền , đơn vị quân đội trong cả nước giữa những ngày chiến tranh khốc liệt và
gian khổ nhất , mà khi nghe tin quân
Việt Cộng tung một đội ngũ Kỹ sư quân sự vào chiến trường thì bọn Mỹ đã đem bom
đánh chặn đoàn quân có một số anh chuyên tu vừa tốt nghiệp được tung ngay vào
chiến trường ngay khi rời khỏi gian nhà bảo vệ luận án , và chúng tôi , dừng
lại để đi B theo phương án khác khỏi bị
chặn đánh dọc đường hành quân . . Lê Công Sơn sau khi nhận quân hàm Thiếu úy
được tung vào chiến trường miền nam ngay , từ đó anh em tôi thân thiết là thế
mà mỗi đứa một phương trời không liên lạc được với nhau . Mãi sau chiến
dịch tiến công giải phóng sài gòn khỏi
quân Cộng Hòa Nam Việt Nam , sau gọi là “ Chiến dịch Hồ Chí Minh “ thắng
lợi , và sau 30 tháng 4 tôi tìm gặp
Huỳnh Quang Tự ____ cùng Nguyễn Văn Trỗi , anh Cao , Anh Thế và LÊ Tùng Sơn đi
B dài vào Miền đông Nam bộ ngay từ những ngày ra trường ,về đơn vị đưa binh
trạm dọc Trường sơn vào Đông Nam bộ ,
còn LÊ Công Sơn mãi đến tháng 6/1975 trong một ngày bất ngờ :
Một ngày , LÊ Công Sơn như trên trời rơi xuống trước
mặt tôi , tôi còn ngỡ ngàng và ngạc
nhiên thì Sơn đã vồ lấy tay tôi và bóp
thật mạnh làm tôi đau chút , nhăn
mặt mà không kêu lên ; Sơn đã vội nói ngay một cách vô cùng mừng
rỡ chẳng cần xã giao , thủ tục thăm hỏi thông thường sức khỏe , thương tích mà
hỏi ngay :
_ “Mày “ đã là Cấp ủy , Bí thư
Chi bộ rồi phải không ?
Tôi không trả lời vào câu hỏi của Sơn mà chỉ cười cùng pha chút sượng sùng mà thôi ! như
một người mắc lỗi .
Ừ ! Và như một lời tâm sự , tôi nói :
Ngày ra trường , “Mày “ có ý giận “Tao “ về vệc phấn đấu ,”Tao “ cũng
mặc cảm vì thua kém “Mày “ chứ biết ba năm sau “ Tao”cũng là Cấp ủy _ Phó bí thư chi bộ thì “tao “ đã nhờ mày bắn
tin để “Tao “ ngỏ lời với Em gái mày từ ngày ấy , giờ thì chắc muộn rồi phải
không !?
Sơn xúc động và chậm rãi :
- Ừ .. Muộn mất rồi … !
Chúng tôi ôm chặt nhau hồi lâu .
Thế là : Tôi đã nói ra được điều
thầm kín nhất trong tôi bấy lâu nay và biết rằng Sơn là người bạn thân tình tốt nhất dù xa
nhau đằng đẵng mà vẫn quan tâm đến sự phấn đấu cho tư cách Ngưởi sỹ quan Kỹ sư
Quân sự vừa hồng vừa chuyên của tôi . Bỗng lòng tôi trào lên một nỗi buồn mênh
mang rồi nghĩ : giá bấy giờ mình nghe theo lời Sơn mà Tu chí thì chắc ngày khải
hoàn hẳn là chúng tôi còn thêm một tình
thân thiết khác hòa quyện vào tình đồng chí thương yêu “ . … ))
Đến đây Hưng bỗng như người đang ở trên mây . đưa mắt vào nơi nào đó để
tưởng nhớ về Đại tá - Kỹ sư quân sự LÊ Công Sơn đã ra đi vĩnh viễn vì con bệnh
hiểm nghèo , khi còn đương chức . .
…
Chúng tôi vừa ăn trưa vừa hàn huyên bởi những thăng trầm , khó khăn
gian khổ mà chúng tôi đã vượt qua để nhìn thấy nhau trong những năm khói bom ác
liệt mỗi người một cương vị hoàn cảnh trên khắp mọi miền của tổ quốc cũng như
những năm tháng trên Thủ đô và Sài Gòn trong chiến tranh cũng như trong Hòa Bình . Trong chiến tranh chúng tôi đều là
những kỹ sư trẻ mang trong lòng mình những ước mơ vươn tới những đỉnh cao của
khoa học kỹ thuật trong khung cảnh đất
nước thanh bình ;. tôi có nhắc lại với các bạn rằng : khi đọc Hồi ký của Tùng
Sơn có đoạn nói về LÊ Công Sơn thân
thiết với Tùng Sơn và khi HỌ gặp lại nhau trên dọc đường Hành Quân B dài vào
Miền Đông Nam bộ Công Sơn Nói : Khi hòa bình , nhất định mình phải học để thành
một Phó Tiến Sỹ .
Bây giờ chúng tôi bùi ngùi khi
Công Sơn đã về cõi vĩnh hằng ở tuổi chưa nghỉ hưu bởi căn bệnh hiểm nghèo mà có
lẽ do chiến tranh và gian khổ Trường sơn đến ngày có cơ đưa dần chúng tôi về
phương trời xa lạ không có trên thế gian này .
>>>>>
CÒN NỮA ..
_____________
dang
dich Page 11 4/21/2015
Đăng Đích Telephone 0350.3665421/0917.254041
Đỗ Đăng Đích _ Email: masterdich@gmail.com
____________.
Theo yêu cầu
của Nghiêm Sỹ Chúng từ HÀ Nội có ý định
làm một tập sách về khóa một của học viên ___ C-213 __ Khoa Trang bị Cơ điện
bấy giờ , Đại tá Đặng Quốc Bảo _ Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường mà sau Tổng
tấn công giải phóng Nm V.N ông là Tướng và sau là Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng
của TW Đảng Cộng Sản V.N .
Chúng tôi càng chuyện nhiều hơn về những bước chuyển biến nhảy vọt của
mỗi người sau khi được trưởng thành từ mái trường của Quân Đội N.D.V.N .
Hưng nói còn tập tự in cuối cùng về hồi ký của mình tặng nốt cho tôi ;
Trong hồi ký ấy tôi hiểu sâu thêm những đồng đội đồng chí mình trong cuộc kháng
chiến và những cuộc hành quân xuyên Việt ,vượt Trường Sơn , sông núi hiểm trở
để góp phần làm nên những chiến thắng cho một ngày thống nhất giang sơn .
Hưng viết : “..((
“ Lớp B5 __ Ô-tô__ Tăng xích của chúng tôi một số do có điều kiện sau khi
ra trường như chủ trương của nhà trường , cả Lớp B5 và B6 __ Ngành Nguồn
điện sẽ được đưa đi học lái Ô-tô __ Một chủ trương đào tạo toàn diện để
khi vào chiến trường , trong trường hợp cần thiết có thể điều khiển xe máy để
hành quân di chuyển phương tiện và nguồn năng lượng tự hành trên các trận địa
Cao xạ và Tên lửa ngoài phía Bắc cũng như trong chiến trường Nam bộ hay dọc
đường mòn Hồ Chí Minh ; tôi và một số đồng chí nữa được gửi đi học
lái xe ở Trường 255 , Tôi và Hồ Tiến cùng đi học lái xe một lần .
Bổ túc và lấy bằng lái xong hai
chúng tôi được tạm điều động về Cục quản
lý xe __ tổng cục kỹ thuật để chờ phân công công tác . Mãi đến sau tết năm 1971-72 chúng tôi mới được điều động về Bộ Tư lệnh Tăng-
Thiết giáp , tôi cũng không ngờ tới Tôi
và Hồ Tiến lại được về cùng một Đại đội Sửa chữa Tăng _ C11 Thuộc Trung đoàn
201 – Xuân Mai , và bây giờ tôi lại là trợ lý kỹ thuật cho Đại đội phó Hồ Tiến
. Nhận nhiệm vụ xong , tâm trạng rối bời : mình gắn bó với Anh Hồ Tiến như một
cái duyên nợ bởi sự học tập và phấn đấu vào Đảng , nhưng bây giờ thì chắc vẫn
là thế , nhưng trong công tác cả 2 đều chưa có thực tế kỹ thuật trong nghề sửa
chữa , mà mình còn học giỏi hơn Hồ Tiến cả trong cơ bản cũng như chuyên môn ,
giờ lại vẫn dưới trướng , thật là một cú sốc chứ chẳng thể nào khác với mình .
Luồng suy nghĩ trăn trở trong tôi và rồi quyết định : ngầm nghĩ vậy : Cần thể
hiện bản lĩnh cùa mình trong thực tiễn khoa học kỹ thuật mà cụ thể là vai trò
kỹ thuật của một kỹ sư quân sự được đào tạo bài bản .
Nỗi
lòng trăn trở và buồn vì một lẽ đến giờ : vai trò của một sỹ quan như mình lại
là kỹ sư mà về chính trị không hơn mấy anh lính mới ít hơn mình 5-6 tuổi chỉ là đoàn viên Thanh niên lao động V.N mặc
dù khi ra trường anh Ngữ cùng lớp là Bí Thư chi bộ B5 – Lớp mình đã trao tay
cho một giấy xác nhận đối tượng và cảm
tình Kết nạp vào Đảng . Nhưng rồi công
việc cuốn hút và nhiệm vụ mới trong kỹ thuật cuốn hút và tôi đã chủ động
đề xuất việc bảo dưỡng những chiếc xe Zil 157 đã bỏ lâu không người chăm sóc
bảo dưỡng, như một dấu ấn đầu tiên trong đơn vị mới của một quá trình phấn đấu
vươn lên sau những tháng năm ngây thơ dưới ghế trường Đại học .” C.O.C.C “ .
Thực tế bấy giờ đồng đội lính xe tăng của chúng tôi cũng như đội ngũ thợ
còn kém về máy Xe tăng , xe kéo pháo hạng nặng ATC -59 cũng như hạng nhẹ , mà tôi được học trong trường chỉ
quanh máy và kết cấu Ô-Tô , do đó tôi tự đặt cho mình một chương trình tự học
và tìm hiểu về máy Nổ xe tăng , thiết giáp cùng với cơ cấu quay , lượn vòng của
chúng có tính đặc biệt không như trên các loại Ô- Tô quân sự thông thường ,
điều này cũng nằm trong trách nhiệm của tôi và Hồ Tiến trong kế hoạch
Huấn luyện bộ đội Tăng -Thiết giáp của Đại
đội .Tôi tìm sách , tài liệu và miệt mài nghiên cứu học tập cũng như động não
suy nghĩ .
Quả thật , đáp lại cố gắng của tôi là lòng yêu mến và tín nhiệm của anh
em đồng đội kể cả các cán bộ trung đội có kinh nghiệm .
Trong những năm Bọn Mỹ đánh phá ác liệt Miền
Bắc nhằm giành thế thắng trên bàn Hội Nghị đang họp ở Paris tôi vẫn ở trung
đoàn thiết giáp 201 cùng đại đội với đại đội phó Hồ Tiến và lần hành quân đi
sửa chữa đến với tôi khi các đoàn xe tăng hành quân vào Nam gặp sự cố trên
đường .
Vào
Tháng 8 -1972 , một mùa thu dưới trời bom đạn của Máy bay cường kích đánh phá
dữ dội miền Bắc nước ta , một hôm liên lạc Trung đoàn mời tôi lên ban chỉ huy ,
, tới nơi đã thấy Đại đội trưởng Thực và Đại đội phó Hồ Tiến đã ngôi cùng hai
Trung úy phó chủ nhiệm Kỹ thuật Trung đoàn __ Anh Phụ ; Anh Phụ nói với chúng
tôi sau vài câu chào hỏi và lễ nghi của tôi với cấp trên của mình :
-Xin nói sơ qua với các anh , , Tình hình hành quân của Tiểu đoàn 1 Xe
tăng hiện đã tập kết ở nông trường Đông Hiếu
-Nghệ An ; trên đường đi còn 3 xe T-54 bị hỏng , đang nằm trên đường
hành quân , một xe ở Cẩm Thủy , 2 xe ở Ngọc Lạc , -Thanh Hóa . Để tập kết đầy đủ đoàn Tank vào Chiến trường , ban chỉ huy trung đoàn
giao nhiệm vụ cho đại đội 11 mà trực tiếp là đồng chí Hưng có nhiệm vụ khắc
phục hư hỏng , sự cố để 3 xe có thể cùng vào chiến trường Nam bộ tác chiến .
Đồng chí mang theo một Xe Công trình Sa cùng phụ tùng , dụng cụ sửa chữa , sau
tiếp cận gửi báo cáo về ban chủ nhiệm Kỹ thuật trung đoàn , đội sửa chữa có
nhiệm vụ sửa chữa và hộ tống kỹ thuật , bảo đảm tác chiến khi 3 xe sửa chữa đến
điểm tập kết là Nông Trường Đông Hiếu Nghệ An .
Giao nhiệm vụ xong anh Phụ chủ nhiệm nhắc tôi một thôi một hồi về đủ thứ
nhất là trên dọc đường dưới trời Nghệ An bão lửa ; tôi chẳng hiểu sự dày dạn của Phó chủ nhiệm kỹ thuật
trung đoàn đến đâu mà chỉ nhớ anh nói :
-
Đây là chuyến đi
khó khăn của cậu dưới trời bom đạn giặc Mỹ , không được để mất xe , công trình
sa , cả trung đoàn chỉ có 4 chiếc ở Đại đội 11 này thôi .
-
Tôi đang cố gắng phấn đấu vào đảng nên Anh
Thực C trưởng nói nhỏ vào tai tôi |
-
- Ông cố gắng nhé , đây là thử thách đấy ! .
-
- Vâng
! tôi trả lời .
-
Tôi nhanh chóng bắt tay vào công việc chuẩn bị
hành quân và sửa chữa , Sau một ngày chuẩn bị đầy đủ kỹ thuật , hậu cần , trung
đoàn đưa xuống cho tôi một lái xe _- cậu lính trẻ biệt hiệu “Minh Xoắn “
mới 18- 19 tuổi vừa ở trường lái xe ra cầm vô lăng công trình sa .
-
Chiều thu dần
buông và đang ngả về hoàng hôn nơi núi đồi
; Xe chúng tôi rời đại đội , xuất phát đi theo đường qua Đèo , Dốc Cun
trên đất Hòa Bình , nhằm hướng Thanh Hóa mà đi .
-
Trên đường hành quân lời dặn “ không được để
mất xe “ cứ luôn nhắc tôi thành thử dẫu
xe đã đi đèn gầm mà tôi vẫn thấy sáng quá , mục tiêu đánh phá có thể quá lộ ,
tôi bèn bảo “minh xoắn “
-
- Dừng xe lại em , che bớt đèn gầm đi , sáng
quá .
-
Tuy đã che bớt ánh đèn gầm , tôi vẫn thấy đèn
còn sáng , nguy hiểm , nên ra lệnh |
-
- Tắt đèn gầm đi
, dương hết kính lên nhìn đường !
-
Tôi ngồi trên tai xe cầm áo may ô trắng phất dẫn đường .
-
Con đường
tối đen , không một bóng xe qua lại , màn đêm buông dày đặc nhưng pháo
sáng của địch chập chờn thỉnh thoảng lóe sáng rực một khoảng trời nên tôi nhìn
đường cũng khá rõ và si-nhan cho lái xe chầm chậm lăn bánh an toàn .
-
Đi đêm dưới ánh pháo sáng , tôi chẳng biết xe
mình qua những địa danh nào của hai miền đất .
-
Phất áo trắng làm si-nhan cho xe đi mãi, đến
mỏi tay , tôi hết chịu nổi , bèn bảo lái xe dừng lại nghỉ . Rồi bỗng phía ngược
chiều chúng tôi sáng dần một đốm sáng ,
càng ngày càng đến gần xe chúng tôi ; khi gần giáp xe tôi , té ra là một chiếc
xe đạp đi đèn pha , tôi hỏi to :
-
Sao đi đèn sáng thế , không sợ máy bay hay
sao !?
-
Không ! ở đây đi đèn thế này là thường có gì
đâu mà sợ ! Các chú mới đi lần đầu qua đây phải không !?
-
Một giọng nói xứ Thanh đáp lại tôi và tôi yên
lòng cho xe đi đèn gầm .
-
Chúng tôi hành
quân đến qua 10 giờ đêm hôm đó tôi cho xe nghỉ qua đêm trên sân trường học của
Xã Cẩm Thủy,vì dịp này các em đang nghỉ h, trời sáng ra , ban ngày để an toàn chúng tôi ngụy trang xe
và hỏi dò về chiếcTank nằm lại trên đường .
Trưa
miền trung , mùa thu nên cái nóng có phần không đáng kể . Tôi nằm trên võng đu
đưa nghĩ miên man về mọi thứ , đang trong trạng thái bâng khuâng nghĩ ngợi suy
tư thì một anh bộ đội đầu mũ không sao , cổ không đeo quân hàm cấp hiệu hớt hải
chạy đến bên võng và gọi tôi như thể đã quen từ lâu :
-Anh Hưng , anh Hưng !
Tôi
chồm dậy ngồi trơ trên võng trước một khuôn mặt ngăm đen với chiếc răng
vàng , dáng người rắn giỏi , tôi mường
tượng ra một người nhập ngũ từ đồng quê nắng gió ., vào chiến trường chẳng cần
sao mũ quân hàm mặc dù là một người lính chiến thực sự ra đi vì quê hương chẳng
so đo tính toán cấp bậc quân hàm .
Giây
lát anh bộ đội kia bình tĩnh lại nói :
-Tôi là Trung , Nguyễn Như Trung
; anh không biết tôi nhưng tôi biết anh .
- Anh biết tôi trong trường hợp nào mà tôi
không nhớ !?
Trung luyến thoắng như thân thiết từ lâu ;
Tôi
ở C - 224 mà ! Biết anh từ khi anh bảo vệ luận án mở màn cho ngày đầu tiên bảo
vệ Tốt nghiệp của Ngành Ô-tô –Tăng Xích 213 vào loại đẹp trai , Tôi cũng ngành
tăng xích nên vào nghe bảo vệ để rút kinh nghiệm năm sau đến lần mình bảo vệ
luận án trước Hội đông Quốc gia , trong năm học anh thường hay sang chơi với
Tranh bạn tôi nên tôi nhớ cả họ lẫn tên anh , lần nào anh chẳng mang theo chiếc
đài bán dẫn Sonny . !
Bỗng tôi “à” lên một tiếng và chuyển cách xưng hô thân thuộc với nhau :
Sao
Trung biết tôi ở đây !? ông làm gì ở đây
?
Tôi
gặp mấy tay thợ đi tìm xe tăng của tôi , hỏi họ tôi biết Anh đang ở đây nên vội
vàng tìm anh .
Trời
dần về trưa , cũng là lúc chúng tôi chuyện trò sơ qua về một thời học sinh cùng
với Tranh bạn học rồi chia tay , Tranh đi lính và rồi cũng về 224 sau tôi 1
khóa .
Thế là tôi đã biết chiếc Xe tôi cần tìm để
hộ tống về nơi tập kết .
Chiếc Tank theo mệnh lệnh tôi
nhận từ hậu phương chính là xe do Trung chỉ huy và đã tự sửa chữa được để tiếp
tục hành quân bám đội hình về nơi tập kết .
Tôi
cũng được biết Trung cùng cả ngành Tăng xích C-224 chưa bảo về Luận án tốt
nghiệp đã nhận lệnh lên đường đi B với quân hàm đồng loại ___ Thượng sỹ .
Xe
của Trung khi qua một con phà nhỏ ngang sông chẳng may bị rớt xuống sông và
được 2 chiếc Tank khác kéo lên ; Xe bị vào nước nhưng Trung cùng anh em kíp xe
tự sửa chữa và tiếp tục hành quân , nhưng chưa qua được phà này .
-
Hai chiếc Xe kéo tôi lên đã qua phà đi tiếp rồi còn tôi nằm lại.
Trung kể tiếp : “
-vì vặc nhau với tay Trung úy Trưởng đơn vị
Công binh ở đây nên hắn chơi khăm cho khê lại .
__ Thế bây giờ sao đây !? Tôi hỏi Trung ?
Chợt
trung nhìn tôi từ đầu tới chân thấy có đi giày đen sỹ quan , Trung hỏi :
Amh
có Xà-cột , súng ngắn không ?
-
Có . Tôi đáp .
-
Thế thì tốt rồi ! chúng ta đến dọa bọn nó ,
thật khéo , chắc chúng phải cho xe qua . !!!
-
Tôi đoán ngay ra
cái mẹo đóng kịch mà có năm trong trường khi đi dã ngoại , xe ô –tô chở chúng
tôi qua phà nào đó , vì quá đông nên một anh trung đội phó nhanh trí lấy băng
trực ban đỏ tiến lên trước đám đông ,
nhân lúc các xe xếp hàng xuống còn đang lộn xộn , đã vội đóng kịch :
-
Vừa đứng trước bến vừa vẫy tay vừa hô to cho
chiếc xe của chúng tôi lách lên :
-
- Lên ! lên ..! lên ! Lên !lên
!!!
-
Không kịp phản ứng của điều xe của bến thì
theo tay vẫy và tiếng hô . chiếc xe chúng tôi đã rú ga lách lên , xuống phà .
-
Bây giờ chắc lại một pha sân khấu nữa đây ,
nhưng lần này phải cứ như thật mới được .
-
Trung nói :
-
- Nó Trung úy ,
mình phải trên cấp nó thì nó mới nể sợ .
-
Thế rồi Trung nói cụ thể để tôi diễn một màn kịch trên
sân khấu là ban chỉ huy bến phà của đơn vị công binh kia .
-
Tôi tán thành ý đồ và kịch bản của Trung .
-
Chúng tôi mượn tạm mấy ngôi sao trên ve áo của
anh em trong đội xe tôi để tôi đeo lon Thượng
úy .
-
Thế là 3 sao , hơn anh kia một sao , lại đủ
Xà- cột , giày đen , súng K54 , quần áo chỉnh tề ; tôi ra dáng một cấp chỉ huy
có cỡ từ tham mưu cấp trên đi đốc chiến bấy giờ .
-
Tôi nghĩ bụng”
Tào Tháo cũng không thể ngờ “ nhưng , rồi bỗng nhớ ra không có giấy giới thiệu
, nhỡ thằng cha nguyên tắc hỏi giấy tờ thì sao !!!???
-
Trung cũng ngớ ra rồi rất tự tin quyết đoán :
-
- Đây Giấy giới thiệu đây ! Trung chỉ vào
ngực mình và nói :
-
Thấy tôi chưa
hiểu , Trung tiếp :
-
-- Nghe nói anh là cán bộ cấp Lữ đoàn Tăng thuộc Bộ Tổng Tam mưu đi đốc
chiến –Kiểm tra tốc độ hành quân vào chiến trường thì sao hắn dám hỏi !
-
-_ Dám hỏi giấy tờ cấp trên sao !?
-
Thế là chúng tôi lững thững đến ban chỉ huy
bến phà . Tôi đi trước đĩnh đạc đúng tư thế kiểm tra đốc chiến , còn Trung cứ
không sao mũ đi ngang nhưng lùi sau nửa bước .
-
Trung dặn tôi
trước khi xuất phát đến gặp Trung úy :
-
- Ông cứ thế nhé rồi có sao tùy cơ ứng biến .
-
Tôi đã nói cho hắn biết ông là Thượng úy Cán bộ tham mưu lữ đoàn tăng trực thuộc BỘ
Tổng tham mưu kiểm ta hành quân vào
chiến trường
-
Anh ta là Trung
úy Tiểu đoàn phó Công Binh phụ trách bến
phà và khu vực này đấy . !
-
Chớ hớ hênh là nguy to đấy ông ạ !
-
Bước vào trong nhà tay Đại đội trưởng bến phà
, Trung tỏ ra hơi khúm núm vẻ sợ cấp trên .
-
Nhìn quanh một lượt nơi làm việc đơn giản ,
Tôi nhận thấy Anh Trung úy kia cũng chạc tuổi Trung và cũng với dáng vẻ dạn dày
của dân đồng quê chất phác .
-
Sau chào nhau
kiểu nhà binh của tôi , Trung giới thiệu anh Trung úy với tôi và Tôi với anh
Trung úy ; Tôi bắt chặt tay anh thân thiết
, anh mời chúng tôi ngồi và uống trà .
-
Tôi cảm ơn và chưa uống hết chén nước tôi nói
:
-
Đồng chí Tiểu
đoàn Phó cho tôi kiểm tra xe của lữ đoàn và thăm anh em , nhân thể thăm
Bến phà của Anh một thể nhé !
-
Trung hơi cúi
mặt
-
- Vâng ạ !
-
Đồng chí Trung
úy tiễn chúng tôi qua cửa .
-
Vừa qua cửa vài bước , Trung tung ra một
tràng Tiếng Nga , Tôi hoảng hốt và chẳng biết Trung nói cái gì đúng hay sai ,
nó cũng chẳng có trong kịch bản , chắc chỉ ngẫu hứng thôi .
-
Có thể Trung nói
bằng tiếng Nga để dọa bọn bến phà rằng :
-
-
- Chớ đùa ,bọn tớ là loạt Sỹ quan có bằng và
đẳng cấp đó nghe .
-
Tôi khẽ gật đầu
ra vẻ cấp trên .
-
-
-
Về đến đoàn xe ,chúng tôi ôm nhau mà cười .
-
Tôi có hỏi :
-
-- Ban nãy ông nói gì với họ vậy , tôi không
hiểu !?
-
___Tôi nhớ được mấy từ Pít – tông ,Thanh
truyền-Trục khuỷu sản xuất tại Liên
xô rồi nói ghép phứa đi ấy mà , anh ta
có mà hiểu ! Đòn gió mà anh !!?? Tôi cũng mù tiếng Nga luôn .
-
Nói rồi Trung cười tít , tôi cũng cười theo .
-
Thế là chắc chắn
Xe Trung Qua phà ngay ; Tôi ,theo nhiệm vụ được giao của mình cho kiểm tra cẩn
thận lại xe của Trung để kíp xe qua phà
hành quân đuổi bám đội hình.
-
Trời xâm xẩm tối
, mùa Thu dòng Sông MÃ như hiền hòa hơn , Chúng tôi cùng Trung úy Trạm trưởng
tiễn chiếc xe tăng và kíp xe của Trung vượt sông hành quân đến nơi tập kết ,.
Chiếc Công trình Sa và anh em chúng tôi cũng lên phà vượt sông lên đường làm
nhiệm vụ hộ tống kỹ thuật cho những chiếc Tăng T-54 vào chiến trường .
-
Nhưng chẳng may , chiếc Công Trình Sa đang bắt
đầu vào dốc phà thì bỗng nhiên Minh Xoắn
-
Nghe tiếng gọi “
Minh “ , Minh “
-
Minh nhận ra người quen thân trên đường hành
quân , mừng rỡ qúa ,mở Ka-bin xuống ; xe dần trôi dốc với tốc độ nhanh dần đều
. Sợ hãi , Minh đứng chặn đầu ngăn trôi , thấy tốc độ nhanh dần đều tôi vội kéo
Minh dạt sang phía tôi và xe lăn theo xuống đốc , may mà đến Phà thì nó xô
chiếc phà đã neo chặt mà dừng lại . Thật là một ca hú hồn .
-
Tôi đành cho xe quay lại trú quân nhờ sân
trường thêm thời gian để kiểm tra an toàn và chấn chỉnh đội hình , tư tưởng cho chặng đường hành quân tiếp
theo khi vượt qua Sông Mã .
-
Vượt song MÃ tôi tiếp tục hành quân hướng tới Ngọc Lạc và ở đây chúng
tôi đã sửa chữa và bảo đảm cho 2 xe còn lại tiếp tục hành quân về tập kết ở
nông trường Đông Hiếu giao cho Tiểu đoàn
Tăng Thiết giáp 201 chúng tôi quay về Trung đoàn .
-
Trên đường về công trình sa của chúng tôi
lại tạm nghỉ ớ Sân trường Tiểu học hôm xưa và chúng tôi những chiến sỹ trẻ cùng
các cô giáo Tiểu học trẻ cùng nhau chung một bữa cơm bịn rịn chia tay không
biết đến bao giờ gặp lại , chỉ còn lại trong tôi lòng mến thương những người
con gái trẻ chăm sóc đàn em thơ trong một tình quân dân cá - nước mà thôi .
-
Những tháng ngày đầu ra trường tôi đã cảm
thấy mình vững vàng hơn qua lần chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ sửa chữa xe Tăng
và hộ tống quân vào chiến trường , nhưng
trong chúng tôi không khỏi khát khao về nhà gặp mẹ và những người thân , tôi
bèn cho lệnh mấy anhem cùng tôi tạt qua nhà trên đường “Mã hồi “ Tuy gọi là tạt
qua nhưng cũng mất cả ngày đường , đồng
hành ra Bắc cùng đoàn chúng tôi có Xe của Thưởng . một lái xe có học thức , yêu
văn thơ nghệ thuật đang lái cho đoàn Hồng Hà tiếp vận thuộc cùng Trung đoàn,tôi
biết điều này sau khi gặp Thưởng đã giao hàng tiếp vận vào trung bộ của đường
dây 559 và chúng tôi thân nhau cùng bảo nhau dừng xe ở Tram trung chuyển Thường
Tín để về thăm nhà . quê hương , chắc Thưởng cũng như tôi có mẹ già Em nhỏ đang
mong con , mong anh từng ngày trong quân ngũ mà cuộc chiến tranh với bom đạn ngợp
trời biết bao giờ thanh bình để cha con từ chiến trường trở về .
-
Cho anh em về nhà và tôi về thăm mẹ và các em
, vui thì có đấy nhưng lo ngay ngáy mọi
người gặp bất trắc thì lại thành kỷ luật vi phạm Điều lệnh quân đội mà tôi đã cố giữ
gìn bấy lâu nay . Về nhà gặp Mẹ rồi , an ủi mẹ được nhưng nỗi lo trách nhiệm
nặng trĩu trong lòng , đâu có vui, mặc dù tôi tin tưởng vào tính kỷ luật của
các chiến sỹ trẻ hơn tôi dăm bảy tuối , cho nên về thăm nhà mà cứ như câu thơ
trong Truyện Kiều Nguyễn Du : “ Vui thì vui gượng kẻo là “
Cuộc chiến tranh giành thống nhất đất nước
vẫn trong giai đoạn giằng co giữa Ta và Mỹ Ngụy , miền Nam đang mở những đợt
tiến công giải phóng từng phần đất , miền Bắc gồng lên chống trọi với Chiến
tranh phá hoại của MỸ mà bọn nó không ngừng dội bom tạ bom tấn xuống các thành
phố , các cung đường huyết mạch tiếp vận cho tiền phương Trung và Nam bộ .
Khoảng đầu tháng 10 /1972 Trung đoàn 201
chính thức tách làm đôi , một đưa vào chiến trường Nam bộ , vì vậy ai đi ai ở lại Bắc râm ran những
phán đoán cùa bao sỹ quan , chiến sỹ chúng tôi . Trong tôi cũng không khỏi phán
đoán rằng mình ở lại Bắc mà Đại đội Phó Hồ Tiến __ đảng viên sẽ làm đại đội
trưởng dẫn binh trạm đi B , điều này tôi chẳng dám phát ngôn hoặc lộ ra . Nhưng
thực tế đã không như vậy , Rồi tôi được gọi lên hội trường cùng ban chỉ huy trong buổi lễ thành lập chính
thức Đại đội 11 B của Trng đoàn 201 .
Sau quyết định thành lập và giao nhiêm vụ là quyết định bổ nhiệm chỉ huy :
-
Đại đội Trưởng –
-
Kỹ sư Thiếu úy
Đỗ Thành Hưng
-
Chính trị viên
Đạị đội –
-
Thiếu úy Đăng Đức Sỹ .
Tôi đã được thăng Quân hàm Thiếu úy sau khi
hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian tập sự Chuẩn úy và rồi sau ngày nhận trách
nhiệm Đại Đội trưởng đem Đại đội đi B , ngày15 /12 tôi được kết nạp vào Đảng
Lao Động V.N , dự bị 9 tháng . .
Chỉ có trong một tháng sau khi thành lập
Đại đội tôi và người giới thiệu tôi vào Đảng __- Chính trị viên đại đội đi B do
tôi chỉ huy đã chuẩn bị xong đầy đủ để
đến giờ “G’” Phát lệnh hành quân vào
chiến trường .
Thế
là từ nay bộ đôi Tôi và Hồ Tiến chia tay nhau để nhận nhiệm vụ mới trong thời
gian chiến tranh ác liệt nhất . Chúng tôi
sẽ chia tay nhau mà chưa biết đến bao giờ gặp lại nhau . Từ nay , trong
vai trò một Kỹ sư quân sự tôi còn mang trách nhiệm và nhiệm vụ một Người Đảng
viên trong cuộc chiến đấu mà Đảng lãnh đạo . Lòng tôi vui sướng nhưng cũng
không tránh khỏi lo âu trên bước đường dấn thân vào chinh chiến mà thương vong
không từ một ai ! và cũng còn mong rằng cha con tôi còn gặp nhau trên chiến
trường Nam
Việt hoặc sau ngày giải phóng Sài Gòn .
…
Nhận xong nhiệm vụ tôi và Anh Sỹ cùng về ở
chung nhau một phòng trong những ngày chuẩn bị cho đại đội hành quân nên cũng
không có thời gian tìm hiểu tính cách
của nhau cũng như hoàn cảnh riêng mà cũng chỉ động viên nhau qua công
việc lo cho ngày xuất quân mà thôi .
Vì
Anh giới thiệu , bảo đảm cho tôi vào Đảng nên cũng biết về hoàn cảnh và gia
đình tôi , còn tôi mới biết qua loa về Anh , quê ở Uy Nỗ - Đông Anh đã có vợ và
2 con còn nhỏ , là lính 59 , 60 gì đó thời
nghĩa vụ quân sự đầu tiên trên toàn miền bắc đang trong hòa bình sau hiệp định
Genève .
Chiều 15/12 tổ chức kết nạp đảng cho tôi xong
,; Anh sỹ và cậu Nguyện -Liên lạc đại đội cùng mấy người lên xe trung đoàn sang
Vĩnh Yên nhận 8 xe bọc thép BTR-60 bộ phận phối thuộc của đại đội tôi , chở quân đi B Hành quân đến
chiến trường Nam bộ .
Ngồi
nhà tôi hình dung ra gương mặt cương nghị của
Sỹ , người rắn chắc to khỏe có dáng quân sự hơn chính trị .
Đại
đội tôi ở Xuân Mai nên đường lên bộ Tư lệnh cũng xa , trên Tam Đảo còn cách
Vĩnh Yên cả mấy thôi đường đát đỏ trung du , nên mãi tận đêm khuya hôm sau
18/12 đoàn xe phối thuộc mới về tới Xuân Mai .
Xuân mai về đêm càng trở nên vắng lặng và tĩnh mịch một khung cảnh nửa
trung du nửa đồng bằng cách xa Thủ đô Hà nội , Trời về khuya , mùa đông lạnh
cái lạnh đầu mùa , tôi vẫn trong trang phục mùa đông chong đèn ngồi đợi Sỹ về
nắm tình hình từ Trung đoàn .
Rồi
, một bóng dáng người cao to , áo quần xốc xếch chật căng , chân đất , tay xách
đôi giày đen bước vào phòng . dưới ánh đèn tôi nhận ra Sỹ . Anh quăng đôi giày
xuống đất , , nét mặt căng thẳng bực bội
thái quá hằm hằm , một gương mặt lạ lùng không có trong anh khi tôi cùng
sống bên anh với những nét rắn giỏi và cương nghị .
Không nói không rằng anh ngồi xuống ghề , và theo sau là cậu Nguyện
-liên lạc bước vào phòng với khuôn mặt tái mét , tím bầm một bên mắt và một bên
má sưng húp lên , cũng chân đất , quần áo xộc xệch , Tôi vội chạy lại đỡ Nguyện
ngồi xuống ghế và hỏi :
-
Sao thế này hả Nguyện !???
- Dạ
, Em bị Chính trị Viên đạp vào mặt ạ !
Không hiểu đầu đuôi ra sao , cũng chưa ai
kịp nói gì mà đầu tôi đã giận sôi lên và vô cùng bất ngờ , hơn nữa còn thấy một
điều không thể chấp nhận được của một sỹ quan chỉ huy ,nhất lại là Chính Trị
viên mà trước lúc ra trận , vào nơi gian
khổ , nguy hiểm lại làm chấn thương chiến sỹ dưới quyền như thế này . !!??
Sao
lại đánh lính thuộc quyền mình trước ngày xuất quân ! Thật không thể được ,
lòng thương yêu chiến sỹ , đồng đội để đâu rồi !!! , và Xử lý sao đây ! Nỗi bất
bình và có phần bán tín bán nghi về tư chất của Sỹ thì anh đi đến tủ lấy lọ dầu
cao mang đến tôi và Nguyện , anh bảo :
--Anh Hưng xoa nhẹ cái này cho cậu ấy giúp tôi . !
,; Rồi anh gọi cậu liên lạc của tôi bảo lấy
giùm ít nước nóng , pha thêm chút muối đẻ chườm những chỗ đau cho Nguyện Và lấy quần áo ấm thay cho Nguyện và thay cho
mình . Thật tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra đến nông nỗi này !?
Tôi
vội thay một ấm trà nóng mới cùng nhau uống và hỏi xem chuyện gì đã diễn ra vừa
xong !???
Sự
bình tĩnh của Sỹ đã trở lại , anh kể rành rọt :
Đoàn xe của mình đi qua Phà Mía thì không
hiểu vì sao !Xe mình ngồi ra đến giữa dòng thì cửa xe bật mở và nước tràn vào ,
Lái và Trưởng xe nhảy ra khỏi xe , kêu cứu , Máy chết , xe chìm nhanh Tôi bật
cửa pháo thủ nhảy ra , Nguyện cũng bật
cửa pháo thủ trồi ra khỏi xe .
Đêm
tối như bưng , sóng nước trôi mạnh , nghe kêu cứu thuyền dân hai bên ra cứu
được bốn chúng tôi .
Trời rét thế này , áo bốn túi , áo len , lại đôi giày Cô-Shư-Ghin nặng
chịch còn ngấm nước không sao tháo bỏ được , tôi chỉ kịp cởi phắt áo bốn túi ra
để bơi vào bờ , Vừa bơi vừa kêu thuyền đến cứu , bỗng thấy nhằng nhoàng dưới
chân , biết là Nguyện bị chìm đang níu chặt lấy chân mình , Tôi bèn đạp mạnh để
bật người bám chặt chân mình ra và túm tóc bơi
bằng một tay đến thuyền dân . Cú đạp để Nguyện buông ra biết vào chỗ nào
mà lần . cứ đạp mạnh để cứu đuối thôi , lên bờ cấp cứu hẵng hay !!
Nguyện cũng nó chen vào :
-
Em hoảng loạn
qúa thấy lơ mơ có ai đó túm tóc em !
-
Cũng may mùa này đầu đông nước cạn chảy không
xiết lắm ,Tôi biết bơi , biết cứu đuối khi vượt sông nên cứu được Nguyện , nếu không thì chết cả
đôi rồi !!
-
Anh Sỹ tiếp theo
.
-
Lên thuyền Nguyện no nước phải tống hết nước ra và hà
hơi cấp cứu . mặt vẫn còn tái mét kìa !
-
Anh chậm rãi hối tiếc nói :
-
Trong những ngày chuẩn bị trước khi đi B tôi
đã xao lại hết , đủ các giấy tờ cần thiết rồi nên không lo gì , chỉ tiếc mấy
tấm ảnh vợ con .. chìm cả đáy sônglàm sao lấy được !
-
Mặt anh thừ ra buồn bã .
-
Còn vài ngày nữa là đến giờ xuất quân . Lệnh
trung đoàn Cấm trại và giới nghiêm để đảm bảo an toàn .
-
Còn mấy
chục tiếng đồng hồ nữa là đến giờ
“G” - giờ xuất quân lên đường trưa 18
/12 Hồ Tiến tổ chức cho Đại đội 11 A
chia tay C-11B lên đường ; Thời gian
trôi nhanh , thật sự tôi và Hồ Tiến thật sự mỗi người một phương trời chỉ còn
hẹn gặp ngày chiến thắng .
-
Đêm Hoàng Mai yên bình ví xa HàNội , còn HàNội
thì mấy ngày nay . trong lúc chúng tôi chờ đợi lên đường thì Ngày cũng như đêm
bầu trời Hànội khói bom đạn nổ ngút mây , không gian rung chuyển bởi máy bay
chiến lược B52 của Mỹ bay vào ném bom theo Tọa độ và máy bay Cường kích bắn
phá,bom liên tiếp hòng hủy diệt thủ đô , dìm Việt Nam Trong biển máu xương tàn
khốc để thắng trên bàn Hội nghị ở Paris đang thương thuyết
về chấm dứt chiến tranh đánh phà Miền Bắc của không quân Mỹ và không quân Sài
gòn .
Ngày 19/ 12
Trung đoàn phát lệnh giờ “ G’ __
giờ xuất phát cho đại đội tôi lên đường , chúng tôi thống nhất giờ xuất
phát hành quân vào giữa chiều đông __ 15 gió cùng phát lện của Trung đoàn .
Bữa cơm trưa cuối cùng trên doanh trại đất Bắc , anh Sỹ mang ra một
bi-đông rượu và liên lạc mang về mấy thứ nhắm ngon mắt , chúng tôi cùng nhau
bữa cơm rượu trước khi lên đường . Anh Sỹ giọng chân tình với tôi :
- Ông Hưng à ! Chỉ huy chỉ có tôi
và ông thôi , ông chỉ huy làm tốt công tác bảo đảm kỹ thuật , Trong hành quân ,
Tôi và Anh em vào thẳng nơi tập kết trước , sẽ chuẩn bị chu đáo chờ đón ông vào
và đồng đội ! Chúc thắng lợi nào !!!
Chúng tôi cụng chén cạn rượu chia tay anh Sỹ đi Tiền trạm . cùng nhau
xuất phát .
Chiếc máy thu bán dẫn Ô-ri-
ông-tông mà đại đội vừa được phát vẫn
thường mang lại tin chiến đấu và chiến thắng B 52 sau mỗi trận oanh kích của mỹ , cùng với
những thiệt hại , chết chóc của nhân dân thủ đô và các vùng phụ cận ; chúng tôi
vừa ăn vừa nghe bản tin phát đi từ Đài Tiếng nói Việt Nam .
Tôi
không uống được rượu còn anh thì từng chén thứ 2 rồi thứ 3 , bỗng nhiên bản tin
thông báo số thống kê người chết và bị thương trong vùng phụ cận và quanh Hà
nội kèm theo tên người và địa danh ; bát cơm trên tay Sỹ đột nhên rơi xuống đất
và đôi cánh tay anh buông thõng .
. ,
anh ngồi ngây người , mắt mở to như
không thể nhắm lại được cứ trợn trừng trước mấy bát ăn ., tay thì run run . Tôi
sợ qúa :
--Làm sao vậy Anh Sỹ ???
Anh
không nói thành lời được chỉ trỏ tay vào chiếc máy thu thanh !! Tôi dìu anh đến
giường và toàn thân anh cứ vậy đổ vật xuống giường như cây chuối bị chặt đổ vậy
.
Anh
nằm ngửa nắm chặt tay tôi .
__
Để tôi gọi Y tá ! ? tôi nói vậy .
Anh
nắm chặt tay tôi như muốn nói : không cần .
--Hay đưa đi trạm xá cấp cứu ?
Anh nắm chặt tay tôi hơn như tỏ rõ không cần thiết gì đâu !
Tôi
không hiểu chuyện gì đã xảy ra với anh khi ăn uống trước giờ chia tay đi tiền
trạm với mấy anh em !!??
Tôi đâm ra nghi ngờ anh và suy nghĩ đến xu
hướng quay lui của những người trước giờ xuất quân vào chiến trường mà cái chết
cầm chắc trong tay . . Tôi tự hỏi : Chẳng lẽ một con người cương nghị , một
đảng viên , chính trị viên nhiều năm trong quân ngũ vả trưởng thành lên từ
nhiều hoàn cảnh khó khăn , nhiều cương vị , nhất lại giới thiệu tôi vào đảng mà
trước giờ lên đường vào chiến trường trong những ngày ngút trời bom đạn này lại
chùn bước hay sao !!
Không hiểu gì tôi bực mình nghĩ :
-
thật điên rồ ,
bày mẹo mưc B quay để lừa mình chắc !???
-
Mà cũng có thể dùng rượu để trì hoãn và
quay lui với lượng thuốc độc vừa phải nào đó để kéo cảc cuộc hành quân lùi bước
, may mà mình không uồng nhiều như anh , chỉ lưng chén gọi là .!!!
Anh bỗng buông tay tôi , và hai giọt nước
mắt chảy dài lăn trên gò má anh .
Thảng . Anh ngồi bật dậy , gọi Nguyện lại
gần ghé tai nói câu gí đó . Nguyện đi ra
và lát sau mang đến cho anh một bát gạo và chẳng hiểu tìm , xin đâu ra được nén
nhang cháy dở đã tắt mang đến cho anh .
Tôi
hỏi anh :
Anh
làm gì vậy ?? Sắp đến 3 giờ chiều –giờ phát lệnh sẵn sàng hành quân rồi ! Anh khỏe lại chưa !?? Anh cười gằn ! Biết rồi
.
Xong
anh lau dọn sạch bàn ăn , cắm nén nhang cháy dở kiếm được đâu đây . anh thắp
cháy . Dưới chấm lửa nén nhang đang cháy chừng như muốn tắt ; anh lẩm nhẩm như
khấn người đã khuất !
Tôi
đang định hỏi thì cậu liên lạc của tôi đưa ngón tay lên miệng ra hiệu cho tôi
yên lặng .
Nén nhang không cháy hết , đĩa hoa rừng chưa kịp héo chỉ còn nửa giờ nữa là phát lệnh chuẩn bị sẵn sàng
Màn đêm buông xuống , lên đường .
Sỹ
nói với tôi :
Ông ạ !! Tôi bị tin đột ngột qúa bất ngờ
nên xúc động ghê gớm , như Từ Hải chết đứng vậy , khi nghe bản tin truyền đi
danh sách và địa danh đúng làng tôi và lại có ông bà nhạc tôi và mấy người họ
ruột thịt của tôi bị bom B 52 đánh xuống chết hết cả , may, không hiểu vợ con tôi có sao không ! cô
ấy sống thế nào đây !??/
-
Tôi bỗng hiểu ra
tất cả rồi bỗng nhiên ôm trầm lấy đôi vai nở chắc của anh và bỗng thốt lên
-
-- Anh Sỹ !
…Hà Nội !!!
-
…
-
Màn đêm buông
xuống Hoàng Mai, phía Hà Nội những quầng
tên lửa và cao pháo 100 bay đỏ rực bầu trời .
-
19h 30 tôi bắt
tay anh Sỹ người chính trị viên của tôi lên đường đi tiền trạm , chúng tôi ôm
chặt nhau ,tiễn anh lên xe vào chiến trường .
-
Còn tôi quay ra hạ lệnh xuất phát sau 2 giò
nữa __ đúng 21h 30 bộ phận chúng tôi đi sau lên đường .
-
Đường hành quân vào chiến trường nam bộ đoàn
chúng tôi đi khá an toàn trên đất việt vì bọn mỹ đang tập trung vào đánh phà Hà
nội ; chỉ khi chúng tôi vòng qua đất bạn Lào mới đôi khi gặp không quân Sài qòn
tập kích .
-
Đoàn bảo đảm kỹ
thuật cho Tank và Thiết giáp xích chúng tôi C 11B trên tuyến lửa , đầu năm 1973 tôi nhận được tin dữ dội bộ phận
C 11B của Anh Sỹ đã bị trúng bom bi và Sỹ bị thương nặng , không có tin gì về
sự sống của anh bởi theo chiến dich liên tiếp của các trung đoàn Tank chúng tôi
bặt tin nhau cho đến ngày 30/4/1975 và mãi sau này . “
Chiến tranh đi qua , nỗi buồn để lại trong
lòng tôi .
-
……
-
Còn nữa .
GẶP LẠI BẠN BÈ
Đỗ Thành Hưng
Vào tới
chiến trường, tôi tiếp tục làm đại đội trưởng đại đội sửa chữa tăng thiết giáp
của đoàn thiết giáp Đông Nam bộ, phiên hiệu là M26. Ngày 15/9/1973, tôi được
chuyển Đảng chính thức. Nhiệm kỳ 1974, tôi được chi bộ bầu vào cấp uỷ. Nhiệm kì
1975, tôi được tái cử cấp uỷ, kiêm phó bí thư chi bộ. 
Trang 19 / 19
19
Sau ngày
30/4/1975, có điều kiện, tôi nháo nhác tìm lại bạn bè và gặp được Huỳnh Quang
Tự, anh Thể (lớp chuyên tu), anh Lương Văn Cao, Lê Tùng Sơn, Trần Phượng và
nhiều anh khác.
Một ngày
tháng 6/1975, Lê Công Sơn đột ngột xuất hiện sừng sững trước mặt tôi. Tôi còn
đang ngỡ ngàng về cuộc hội ngộ này thì hắn vồ lấy tay tôi bóp thật mạnh. Tôi
hơi nhăn mặt mà không dám kêu đau. Hắn chẳng cần thủ tục xã giao thông thường,
không thèm hỏi thăm sức khoẻ tôi ra sao? Có thương tật gì không? Miệng hắn nở
nụ cười hết cỡ, mắt mở to nhìn thẳng vào mặt tôi nói như quát:
- Mày đã
là cấp uỷ, bí thư chi bộ rồi phải không? Tôi không trả lời thẳng vào câu hỏi
của hắn, tôi cười pha chút sượng sùng như người biết lỗi và trả lời Sơn như tâm
sự: - Ngày ra trường, tao biết mày có ý giận tao về việc phấn đấu, tao cũng mặc
cảm vì thua kém mày, chứ biết sau ba năm tao cũng là cấp uỷ, phó bí thư chi bộ
thì tao đã nhờ mày bắn tin để tao ngỏ lời với em gái mày từ ngày ấy. Bây giờ
thì muộn rồi phải không Sơn?
Sơn xúc động, giọng chùng xuống chậm rãi:
- Ừ...
muộn mất rồi!
Chúng
tôi ôm chặt lấy nhau hồi lâu. Trong lòng tôi dâng trào cảm xúc vui buồn. Nói ra
được điều thầm kín mình ôm ấp bấy lâu với Sơn, tôi thấy lòng mình nhẹ đi dù là
quá muộn.
Lê Công
Sơn, một thằng bạn chân thành, dù xa nhau nhưng luôn quan tâm theo dõi sự
trưởng thành, tiến bộ của tôi. Giá như... giá như ngày đó tôi nghe và theo
gương Sơn phấn đấu tốt hơn, có khi tôi và Sơn giờ đây, ngoài tình bạn còn có
tình thân thiết khác... Sài Gòn
17/07/2013
Đỗ Thành Hưng- B5 –C213
Sđt: 0908106399
Cựu
Chiến Binh __ Cựu Sỹ quan Trung Cao cấp Quân đội Nhân Dân Việt Nam
Kỹ
Sư Quân Sự C213 K1 Học viện K T Q S
V N
Từ trên xuống dưới : Lê Kinh
Tuyến ,Trần Quý quyết,Khưu Hoàng ,
Thiếu
tướng Nguyễn Ngọc Chương Tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng Và Đỗ Huê
Trong cuộc
gặp thường niên C213 K 1 Học viên K T Q S V N 4
January 2015
Cự học
viên , Cựu giảng viên C213 và Nguyên
Trưởng Khoa Lê Phương Cảo
Nội Dung trong Tài liệu này :
Hồi ký và truyện hồi Ký của :
Đỗ Thành Hưng
Nguyễn Thanh Sơn
Đỗ Đăng Đích
.
Và Hồi ký
của một Lão Thành Cách mạng Thân Sinh
của Nguyễn Thanh Sơn
Dear Madam or Sir
PERSONAL
REGISTERED MAIL
Thanks
masterdich Page 29 4/21/2015
Đỗ
Thành Hưng- B5 –C213
Sđt:
0908106399
Đỗ Đăng Đích Mail __ masterdich@gmail.com Phone
0917254041
CÓ MỘT
NGƯỜI
NHƯ
THẾ
-
ÔNG
NGUYỄN
TẠO
Lời nói đầu: Thực hiện chương trình
công tác chính trị năm 1987 trong đó có việc viết hồi ký của các đồng chí cách
mạng lão thành nguyên là lãnh đạo công an. Công an Hà nội đã cử chị Kim Dung,
đến gặp và ghi lại lời kể của đ/c Nguyễn Tạo.
Ngày 23.5.1994 ông Nguyễn Tạo mất, thọ 90
tuổi. Hòa trong dòng người đến viếng, chị Kim Dung đã tặng lại gia đình phần
ghi chép của mình, như một kỉ vật.
Nhận thấy đây là một tài liệu quý về truyền
thống yêu nước của một vùng quê, một gia tộc, về phẩm chất của một nhà cách
mạng chân chính, về lịch sử, về một thủa ban sơ… và với một cách kể chuyện dung
dị, một cách viết mộc mạc, chúng tôi xin giới thiệu bài viết này với những
người quan tâm.
Mãi cho đến bây giờ, khi đã ngoài 80 tuổi, mỗi khi nhớ về quê hương, từ
sâu thẳm tâm trí tôi lại vang lên dòng điệu dân ca quen thuộc “Trai vững như
núi Quyết, gái đẹp như sông La…” Tôi tự hào là người dân của vùng quê đẹp đẽ và
anh hùng ấy. Nơi tôi sinh ra, là xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh cách
biển không xa, kề bên núi Quyết sông La. Nhiều đời chúng tôi đã sinh sống ở
đây.
Ông nội tôi, cụ Nguyễn Trọng Tốn, sau khi học hành thành đạt, triều đình
bấy giờ bổ làm quan tri huyện Võ Nhai, Thái Nguyên. Nhưng thời gian làm quan
của ông chẳng được bao lâu thì Huế thất thủ, Hà Nội bị đánh chiếm, giặc Pháp
nghênh ngang chia năm sẻ bảy đất nước. Ông về quê, tìm gặp người bạn tri âm là
Phan Đình Phùng. Với tấm lòng yêu nước khôn nguôi, hai ông quyết định khăn gói
lên đường vào Huế để trực tiếp xem triều đình nghĩ gì, định liệu ra sao khi họa
xâm lăng đang ở trước mắt? Than ôi, cố đô hoa lệ nay còn đâu? Vua Hàm Nghi và
triều thần, trước sức ép của giặc Pháp đành kéo nhau đến vùng Sơn Phòng, một
vùng rừng núi giáp Lào của Hà Tĩnh. Không từ bỏ ý định ban đầu, hai ông tiếp
tục tìm đến Sơn Phòng. Gặp được nhà Vua, hai ông phấn khởi vô cùng, không phải
vì chức vụ Nội Tướng và Nội Vụ Vua phong cho 2 người mà vì Nhà Vua và Triều
Đình vẫn một lòng quyết tâm chống giặc. Tổ chức “Văn Thân” hình thành với nhiệm
vụ chính là khôi phục lại vị trí vua Hàm Nghi, vị trí triều đình đương thời,
với khẩu hiệu chung là “bình Tây, giết Tà”. Phong trào văn thân lớn mạnh không
ngừng. Do ảnh hưởng tích cực của ông nội tôi và Phan Đình Phùng, vùng quê tôi
nhiều người nô nức tham gia “Văn Thân”. Thanh niên trai tráng tìm đến vùng Vũ
Quang, đại bản doanh của Phan Đình Phùng gia nhập nghĩa quân. Ông bác của mẹ
tôi cũng là tướng giỏi, giúp Phan Đình Phùng rèn luyện nghĩa binh và chỉ huy
đánh úp các đồn bốt địch làm chúng hoảng sợ. Ông ngoại tôi, cụ Nguyễn Viết
Tương ở lại làng quê lo tổ chức các việc hậu phương như quyên góp tiền bạc,
thuốc men, lương thực gửi ra cho nghĩa quân. Chính mẹ tôi khi đó, bà Nguyễn Thị
Hai chừng 17,18 tuổi thường xuyên đi trong rừng, hoàn thành nhiều chuyến giao
liên giữa quê nhà và căn cứ nghĩa quân.
Nhưng “Văn Thân” mới chỉ khuấy lên tinh
thần yêu nước của một vùng, chưa mạnh lực lượng, chưa khỏe thanh thế đã bạo
động, bộc lộ lực lượng công khai. Thêm vào đó việc xác định kẻ thù của “Văn
Thân” quá mơ hồ, ấu trĩ. Họ giết Tây và giết tất cả những ai theo đạo Thiên
chúa giáo. Theo họ, người Pháp truyền bá đạo Thiên chúa vào nước ta, ai theo
đạo đó tức là theo Tây. Nhiều làng toàn dân theo đạo thiên chúa nhưu7 Lạc
Thiện, Xóm Vạn…bị đốt phá nhiều lần, nhân dân bị nhục hình và chém giết. Không
thể nói ra, nhưng lòng dân oán hận. Bởi vậy, sự thất bại của “Văn Thân” là
đương nhiên. Ông nội cùng vua và quần thần văn võ rút vào bí mật. Nhiều tướng
giỏi và nghĩa binh không rút kịp đều bị giặc Pháp hành hình. Ông bác của mẹ tôi
cũng bị chúng đưa về làng treo cổ lên cây đa.
“Văn Thân” tan vỡ cũng có nghĩa là lý tưởng
của ông nội tôi sụp đổ. Ông về quê cũ, dứt khoát không hợp tác với giặc, không
chịu mòn mỏi với cuộc sống ẩn sĩ trốn tránh dương gian. Ông quyết định theo
nghề thuốc, nghề cao quý, giúp ích thiết thực cho con người. Ông tôi đã trung
thành cho đến lúc qua đời (1921) thọ 99 tuổi. Sau này con cháu vẫn gọi là cố
Huyện.
Bố
tôi, ông Nguyễn trọng Tấn, lớn lên khi phong trào “Văn thân” chỉ còn là dư âm.
Ông được gia đình cho ăn học tử tế và đỗ tú tài. Nên sau này con cháu vẫn gọi
là cụ tú Tấn, hay cụ tú Thái Yên. Là bạn thân với Phan Bội Châu, ông cũng có
tấm lòng yêu nước và nhân ái với con người. Nhưng vốn tính đa cảm, ông không
thích những chuyện xung đột. Không ra làm quan, ông học nghề thuốc của cha và
quyết tâm nối nghiệp. Đương thời, ông được mệnh danh là thày thuốc giỏi, nhân
từ. Ông rất coi trọng thuốc Nam, nên trồng cả một vườn thuốc Nam ở quê để
dùng. Vừa chữa bệnh cho nhân dân vừa viết sách làm thuốc. 60 năm trong nghề,
ông miệt mài soạn thành 210 quyển sách xoay quanh nghề thuốc. Tiếc thay, vì
nhiều lí do những cuốn sách đó chẳng còn đáng kể. Ông mất năm 1955, thọ 88
tuổi.
Tôi sinh ra vào những năm tháng khủng khiếp
nhất của quê hương. Ở vùng đất cằn cỗi, lúa cấy một vụ mà hi vọng được mùa quá
mong manh, người dân quê tôi tìm nghề mộc làm phụ, lang bạt kì hồ khắp nơi kể
cả Thái Lan, Miến Điện. Cuộc sống nghèo khổ và vất vả sẽ lặng lẽ trôi qua nếu
mưa thuận gió hòa, con người mạnh khỏe.
Nhưng tự nhiên biết đâu lòng người, mưa vẫn táp, gió vẫn sa, bệnh dịch
vẫn hoàn hành, hạt lúa đã vào bị mưa gió dập vùi đến thối rữa, con người cần
đến nhau là thế vẫn bị bệnh tật làm cách trở âm dương. Ác nghiệt thay, tàn khốc
thay là bệnh đậu mùa. Không hẹn mà đến, chả chia vụ, chả chia mùa, năm sau hung
hãn hơn năm trước, đậu mùa lôi đi ở quê tôi biết bao nhiêu người. Mẹ tôi kể lại
rằng khi tôi được già nửa năm, dịch đậu mùa đã chọn tôi làm một đối tượng để
gậm nhấm. Ngay cơn sốt đầu tiên tôi đã nghỉ ăn, nghỉ bú. Tiếp theo là đám mụn
lớn, nhỏ thi nhau bung ra khắp cơ thể. Ban đầu tôi còn quấy khóc, đòi mẹ bế vắt
vai, đi lại trong nhà, ngoài sân, sau thì chả còn hơi sức đâu mà khóc. Người
tôi nứt nẻ, cựa quậy trong đám mủ tanh hôi đến buồn nôn. Mẹ tôi gần như phát
điên vì phải chứng kiến thần chết đang lôi con mình ra khỏi tay. Được tin, bố
tôi từ cửa hàng thuốc ngoài Vinh, vội vã đi suốt đêm về nhà. Ông ở bên tôi hàng
ngày, nhờ tài năng, cứu tôi khỏi lưỡi hái tử thần. Và từ đó, tôi lớn nhanh như thổi…
Năm lên 7 tuổi tôi theo học chữ Hán. Ông đồ
già của làng dạy tất cả lũ trẻ con chúng tôi. 5 năm theo học cụ đồ, tôi hay bị
phạt nhất, mặc dù học hành không dốt. Chả là tôi hay tụ tập đám bạn học chơi
trò trận giả, đánh nhau, phục kích, nhiều lần quên cả giờ tới lớp. Mỗi lần có
dịp về nhà, biết tôi mải chơi, chểnh mảng học hành, bố tôi thường gọi lại
khuyên răn nhẹ nhàng: nào là chữ Hán là chữ ông cha ta nhiều đời đã dùng, dứt
khoát không học chữ Pháp, học chữ Pháp là đầu hàng Tây. Nào là học chữ Hán để
hiểu biết sâu rộng, nhất là lớn lên theo nghề thuốc của bố, nghề quý đã cứu tôi
thoát chết…Tôi chăm chú nghe, cũng thấy nhiều điều có lý trong nhiều điều bố
khuyên. Nhưng vài ngày sau những trò chơi chiến trận đã lại thu hút tôi mãnh
liệt. Đầu óc non nớt của tôi cứ băn khoăn: Tại sao tôi phải nối nghiệp cha? Sao
tôi không thể là một sĩ phu yêu nước, xông pha trận mạc bảo vệ đất nước? Hình
ảnh một chinh phu với áo giáp “đỏ tựa ráng pha”, cưỡi con ngựa chiến “trắng như
là tuyết in”, dũng mãnh “chọc trời khuấy nước” cứ tươi rói trong kí ức tuổi thơ
của tôi.
Năm 13 tuổi, mặc dù chưa được sự đồng ý của
bố, tôi vẫn đòi mẹ tôi đưa đến trường tiểu học. Tôi muốn biết người ta dạy
những gì ở trường tiểu học, muốn biết những
xì xồ của bọn ngoại bang nghĩa là sao? Nền văn hiến của chúng là gì? Bố
tôi khuyên can có, đánh đập có nhưng tôi vẫn miệt mài 4 năm ở trường tiểu học.
Không thể “khuất phục” được đứa con ương ngạnh, bố tôi đưa tôi ra Vinh để kèm
cặp, hi vọng bằng thực tế tốt đẹp của nghề thuốc, tôi sẽ chí thú nối nghiệp
cha. Tôi rất thương bố, kính trọng bố, rất hiểu sự cao quý của nghề thuốc nhưng
không thể nào chăm chú nghiên cứu y học, không thể nào trầm ngâm, suy tư cùng hàng
ngàn vị thuốc Nam, Bắc. Bởi vậy tôi chỉ thành người giúp việc đắc lực cho bố.
Tất cả mong muốn hiểu biết của tôi đều để ở trang báo hàng ngày và sách vở in
bằng chữ Pháp, chữ Việt. Tôi chăm chú theo dõi mọi hoạt động chính trị của
thanh niên, học sinh sinh viên, của những người yêu nước.
Tôi biết những năm đầu 20 của Thế kỉ 20, ở
Nghệ An có một đảng phái mới thành lập lấy tên là “Phục Việt”(khôi phục nước
Việt Nam)
rất nhiều trí thức, học sinh ở Nghệ An tham gia. Tiền thân của “Phục Việt” là “
Chiêu Dương Hội”, hội của trí thức yêu nước thuộc nhóm “Văn Thân” còn lại, bấy
lâu không chấp nhận cảnh sống ẩn dật thanh bạch giữ trọn tấm lòng son, mà đêm
ngày sôi sục tìm cách cứu nước, cứu nhà. Họ thành lập “Chiêu Dương Hội” để buôn
bán, quyên góp tiền của giúp những sinh viên du học Nhật Bản về mở mang cho đất
nước. Họ cho người liên lạc với “Đông Kinh
Nghĩa Thục” ngoài Hà nội, với tổ chức của Lương Văn Can ở Thái Bình.
Cũng giống như nhiều tổ cải lương lúc bấy giờ, “Chiêu Dương Hội” bị Pháp đàn
áp. Các cụ đứng đầu hội như Lê Huân (Giải Huân), Nguyễn Đình Kiên (Tú Kiên),
Ngô đức Kế đều bị đày ra côn đảo. Giữa mịt mùng biển khơi, giữa cái sống và cái
chết cách nhau gang tấc, những cụ già yêu nước vẫn hướng về quê hương, hướng về
lý tưởng đánh giặc cứu nước. Họ dặn dò
nhau ai sống được về tới đất liền, nhất định phải thành lập đảng “Phục Việt”.
Họ tổ chức cho 3 người vượt ngục, hai người về tới đất liền thì bị bắt và lại
bị đưa ra côn đảo, riêng Tú Kiên trốn sang Trung quốc thì bị Phan Bá Ngọc làm
mật thám cho Pháp báo Pháp bắt và cũng bị đày trở lại Côn đảo. Họ tổ chức cho
một người nữa vượt ngục, người này về đến Sài Gòn thì bị bắt. Mãi đến 1918, Lê
Huân hết hạn tù mới về tổ chức thành lập đảng “Phục Việt”. Và đến những năm 20
“Phục Việt” thu hút quanh mình hầu hết số trí thức Nghệ An, Hà Tĩnh và tiếng
tăm đã lan truyền khắp trong Nam, ngoài Bắc. Nhiều trí thức có tên tuổi trong
cả nước như Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Trần Phú, Đào Duy Anh, Phan Kim
Huy, Phan Đăng Lưu…đều gia nhập “Phục Việt”. Tôi tình nguyện làm đảng viên
“Phục Việt” khi chưa đầy 18 tuổi.
Nhiều sách báo, tài liệu của bác Hồ ở nước
ngoài được bí mật chuyển tới “Phục Việt”. Tất cả các đảng viên đều say sưa
nghiên cứu, đều náo nức trong niềm vui lớn. Con đường mà họ mò mẫm, tìm kiếm
bấy lâu nay đã trải ra trước mắt. Lê Huân liền cử Lê Duy Điếm, một đảng viên
tin cậy, sang Thái Lan rồi tìm đường tới Quảng Châu, Trung Quốc gặp Bác Hồ xin
chương trình “Cách Mạng Đồng Chí Hội”. Đồng thời với việc cử người đi tìm Bác,
“Phục Việt” lãnh đạo học sinh, sinh viên cùng nhân dân đấu tranh đòi giặc Pháp
thả Phan Bội Châu đang bị giam cầm. Năm 1925 Phan Bội Châu được tha và Lê Duy
Điếm cũng hoàn thành nhiệm vụ, mang đầy đủ tài liệu “Cách Mạng Đồng Chí Hội” về
cho “Phục Việt”. Đảng “Phục Việt” chuyển thành “Thanh niên Cách Mạng Đồng Chí
Hội” do Lê Huân (tức Giải Huân) làm đảng trưởng, có tổng bộ là Nghệ An. Thường
xuyên liên lạc với Bác Hồ, cử Trần Phú sang gặp Bác và Trần Phú được Bác cử
tiếp sang học Liên Xô.
Vào năm 1925,1926 một số thanh niên yêu
nước ở miền Bắc tìm cách đến Quảng Châu, Trung Quốc gặp Bác Hồ và được Bác giác
ngộ, thành lập một “Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội” nữa, có tổng bộ là Quảng
Châu. Vậy là đồng thời có hai tổ chức “Thanh niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”. Năm
1929 “Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội” tiến hành đại hội nhằm hợp nhất các tổ
chức thanh niên yêu nước làm một. Nhưng do những bất hòa không đáng có, mục
đích đại hội không thành. Các đại biểu miền Bắc về nước thành lập “Đông Dương
Cộng Sản Đảng”, miền Nam thành lập “An Nam Cộng Sản Đảng” và miền Trung thành
lập “Tân việt Cách mạng Đảng”, sau chuyển thành “Tân Việt Cộng Sản liên Đoàn”.
Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Thị Minh Khai cũng tham gia đảng này và bí mật ra Hà
Nội liên lạc với tôi. Tuy mới thành lập nhưng “Tân Việt Cộng Sản liên Đoàn” đã
trải qua hoạt động của “Phục Việt”, của “Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội” của
“Tân Việt Cách Mạng Đảng” nên đội ngũ đảng viên đông đảo, chi bộ được thành lập
khắp cả nước. Lúc ấy tôi được Đảng cử phụ trách “Tân Việt Cộng Sản Liên Đoàn”
phía Bắc, gồm các chi bộ ở Đáp Cầu Hà Bắc, ở đại đội lính khố đỏ ở Hưng Hóa
Tuyên Quang, ở các trường cao đẳng như Y, Dược, Lục lộ, Bôđa…
Biết hoạt động của “Tân Việt” mạnh và rộng
khắp, giặc Pháp cùng bọn tay sai tìm mọi cách phá hoại. Những đồng chí trung
kiên như Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt đều bị bắt, tôi cũng bị tầm nã. Tổn
thất to lớn hơn cả là trong một lần “Tân Việt” triệu tập họp cán bộ cốt cán tại
bến đò Trai thuộc huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh thì bị giặc Pháp phục kích, bắt giam
rồi thủ tiêu dần.
Kẻ thù vẫn ráo riết tầm nã những đảng viên
“Tân Việt” trong đó có tôi. Cơ sở của Đảng ở Trung du, ở miền núi phía bắc, ở
Hà Nội che chở cho tôi. Nhưng không thể sống mãi cuộc đời trốn tránh, không
liên lạc được với “Tân Việt”, tôi đã tham gia “Đông Dương Cộng Sản Đảng” vì
nghĩ rằng dù khác địa dư, Đảng này cùng chung chương trình, cùng chung mục đích
lí tưởng với “Tân Việt”. Ít lâu sau 3.2.1930, bác Hồ tổ chức cuộc họp ở Ma Cao,
Trung Quốc hợp nhất 3 đảng trong nước thành “Đảng Cộng Sản Đông Dương”.
Tôi được Đảng cử phụ trách công tác tài
chính, công việc thật mới mẻ, nhưng với tinh thần đảng viên cộng sản, tôi nhanh
chóng làm quen và đưa dần vào nề nếp. Đang mải mê với nhiệm vụ mới thì cuối
tháng 3.1931, đảng bộ Nam
Định bị lộ và bị đàn áp. Nghiêm Thượng Biền, Bí thư Xứ ủy không chịu nổi tra
tấn đã khai báo một loạt cơ sở phía Bắc. Gần 300 người ở Hải Phòng, Nam Định,
Hà Nội bị giặc bắt trong đó có đồng chí
Lê Duẩn, Trịnh đình Cửu…và tôi. Chúng tôi bị đưa về Hỏa lò và gặp đồng chí
Trường Chinh bị bắt từ trước. Tại đây chúng tôi thành lập chi bộ bí mật gồm 7
đồng chí, do đồng chí Trường chinh làm
bí thư, lãnh đạo gần 2000 Đảng viên Cộng Sản đang bi giam cầm chống lại chế độ
hà khắc của nhà tù, chống lại sự tuyên truyền, lôi kéo của bọn Quốc Dân Đảng.
Thắng lợi liên tiếp thuộc về chúng tôi, nhưng phải hoạt động trong sự cầm tù,
tôi thấy bí bách, thấy sức mình còn thừa thãi quá nhiều. Chỉ có ra ngoài đời,
hoạt động giữa đồng chí, đồng bào mình mới thấy thoải mái, hạnh phúc.
Tôi báo cáo tổ chức để được vượt ngục, và
được đồng ý. Muốn được tự do, tôi hăng hái đề xuất xin vượt ngục, bây giờ tổ
chức chấp thuận tôi mới thấy lo. Vượt làm sao được giữa bao nhiêu bức tường khó
lòng khoan thủng? Theo cống ngầm chui ra ư? Cống ngầm cọc sắt đóng dày, một quả
bóng nhỏ không lọt nổi? Phải tìm cách buộc chúng đưa ra khỏi hỏa lò, sau đó sẽ
tính toán tiếp. Những đồng chí được tổ chức đồng ý cho vượt ngục đều giả ốm.
Tôi nhịn đói 12 ngày, thân thể tiều tụy, người lả đi và ho ra máu. Kẻ thù tưởng
chúng tôi ốm nặng, buộc phải chuyển ra nhà thương Phủ Doãn (nay là bệnh viện
Việt-Đức). Tôi cùng 6 đồng chí (Phạm Quang Lịch, Nguyễn trọng Đàm, Nguyễn Lương
Bằng, Lê Đình Tuyển, Phạm Như Cương, Bùi xuân Mẫn) bị đưa vào buồng giam của
nhà thương. Sau mấy ngày nắm chắc tình hình, chúng tôi nghĩ chỉ cưa chấn song
sắt cửa sổ thông gió sát trần, lần lượt chui ra là phương pháp trốn tối ưu.
Nhưng lấy lưỡi cưa sắt ở đâu? Lịch nhận việc chuẩn bị lưỡi cưa. Nhà anh vốn là
một đại địa chủ ở Thái Bình, giác ngộ cách mạng đi theo Đảng. Người nhà, bạn bè
của anh ở Hà nội khá nhiều và đều giàu có. Họ đến thăm anh dễ dàng hơn người
nhà chúng tôi. Họ đã làm một chiếc hộp hai đáy, đặt lưỡi cưa sắt ở đáy dưới, và
đổ đường đầy ắp, chuyển vào. Và, chúng tôi thoát khỏi nhà thương như chuyện
thần thoại. (Về cuộc vượt ngục này, ông
Nguyễn Tạo đã kể trong hồi kí “Sống Để Hoạt Động”, và cũng từ đó ông được gọi
là Tạo Doãn, hay Nguyễn Phủ Doãn)
Thực hiện lời hứa trong tù “đã trốn thoát
là phải hoạt động”, chúng tôi lao vào công tác, quên cả nguy hiểm, vất vả. Phạm
Quang Lịch về quê cũ Thái Bình, tuyên truyền, giác ngộ thành lập được 11 chi
bộ. Anh dự kiến họp cơ quan Tỉnh ủy thì bị một tên phản bội khai báo với giặc,
anh bị bắt. Nguyễn Lương Bằng về Hải Dương công tác, ít lâu sau cũng sa lưới
mật thám. Các anh khác về các miền quê tiếp tục hoạt động. Riêng anh Nguyễn
Trọng Đàm bị bắn chết khi chưa ra khỏi Hà Nội. Còn tôi đến vùng Đa Phúc, Phúc
Yên (nay là Sóc Sơn, Hà Nội) làm cu li cho một đồn điền, tổ chức nông hội đỏ ở
đó, và tổ chức được một chi bộ. Giặc Pháp đánh hơi thấy tôi ở Đa Phúc cho lính
tầm nã, tôi chạy lên Sơn Tây tổ chức một chi bộ ở đồn điền Đá Đen, rồi chạy
tiếp vào Thanh Hóa thành lập chi bộ Hàm Rồng. Chi bộ này lớn mạnh, trở thành
nòng cốt để tôi thành lập Tỉnh ủy Thanh Hóa, hoạt động bền bỉ, có chất lượng
đến thời kì kháng chiến chống Pháp.Tôi thành lập được một chi bộ ở chợ Dầu, Bắc
Ninh. Ở Hà Nội tôi thành lập và củng cố chi bộ Nam Đồng, rất đáng tiếc, một số
đảng viên của Nam Đồng bị bắt, hèn nhát khai báo về tôi. Tháng 4.1934 tôi đang
ở Thanh Hóa thì bị bắt. Chúng đem tôi về Hà Nội xét hỏi, tra tấn và đưa ra Hà
Đông, ít lâu sau lại đưa về Hà Nội. Tòa án kết tội tôi 7 năm tù giam cộng với
20 năm của án trước thành 27 năm. Thành án, chúng trả tôi về miền Trung rồi đày
lên nhà tù Lao Bảo, nhà tù Buôn Ma Thuật.
Kẻ thù thật thâm độc khi chọn Lao Bảo xây
một nhà tù. Rừng núi âm u hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Thỉnh thoảng những đợt
giá Lào thổi qua, cây cối khô quắt, người như bị hút hết nước, môi bỏng rộp và
thân thể rã rời. Chế độ của nhà tù hành hạ và không chịu nổi khí hậu vùng Lao
Bảo, nhiều tù nhân chính trị chúng tôi qua đời. Giặc Pháp muốm giết dần chùng
tôi theo kiểu đó. Những năm bị giam cầm Lao Bảo tôi gần gũi thân thiết với
Trương Văn Lĩnh. Lĩnh bị bắt về Lao Bảo trước tôi mấy năm. Năm 1923, anh là
thanh niên tiến bộ được tổ chức Cách mạng cử sang Trung Quốc học trường Quân sự
Hoàng Phố. Anh rất giỏi tiếng Anh nên quen biết nhiều người ngọai quốc và do
vậy giúp đỡ Cách mạng được rất nhiều. Như vận động để bọn Tưởng Giới Thạch tha
một số đồng chí cách mạng. Kể cả lần bác Hồ bị bắt ở Hồng công năm 1931, anh đã
vận động luật sư Luzơbai bảo vệ bác. Người liên lạc giữa anh Lĩnh và Bác Hồ khi
đó là chị Lý Phương Thuận, vợ đồng chí Hồ Tùng Mậu, bọn mật thám bí mật theo
dõi chị và bắt được Trương Văn Lĩnh cùng Hồ Tùng Mậu. Anh Lĩnh bị đưa về nước,
kết án và đày lên Lao Bảo.
Năm 1935 Mặt trận bình dân ở Pháp thắng
thế, chính phủ Pháp nhân sự kiện này ân xá tha hoặc giảm án cho một số tù nhân
trong nước và thuộc địa. Tôi, anh Lĩnh, nhiều đồng chí nữa không được hưởng
chút nào sự ân xá đó. Ở lại Lao Bảo để thi hành bản án tức là tự mình giết chết
mình. Tôi, anh Lĩnh cùng hai anh Nguyễn Doánh và Chu
Huệ bàn cách vượt ngục. Bàn thế nhưng cơ hội để thực hiện đâu có dễ dàng. Mãi
đến một đêm tối trời lạnh giá cuối năm 1942, tại nhà đày Đăkminl của nhà tù
Buôn Ma Thuật, bốn anh em chúng tôi quyết định trốn. Chạy suốt đêm trong rừng,
không hề ngoái lại, nhưng chúng tôi đều không dám chắc mình thoát. 4 ngày, 4
đêm chúng tôi chi dám nghỉ khi quá mệt. Xuống đến đồng bằng Trung bộ chúng tôi
chia tay nhau, để nếu có bị bắt lại thì không bị bắt cả. Nguyễn Doánh về đến
Nghệ An bị bọn Tây phát hiện và bắn chết. Chu Huệ về quê ở Nghĩa Đàn, Nghệ An
hoạt động và tham gia cướp chính quyền ở đây. Trương Văn Lĩnh cùng tôi ra Bắc,
liên lạc với Ủy ban kháng Nhật. Lĩnh được cử phụ trách trường đào tạo quân sự
của chiến khu, tôi được cử công tác hậu cần.(
về cuộc vượt ngục này, ông Nguyễn Tạo đã kể lại trong hồi kí Vượt Ngục Đắckmil)
Giữa năm 1945, do đòi hỏi về công tác cán
bộ miền Trung, tôi được cử về quê tổ chức chiến khu Tràng Sinh ngay trên cở sở
chiến khu của Phan Đình Phùng trước đây. Chưa có bao giờ không khí cách mạng
lại sôi động như những ngày này. Từ chiến khu đến từng cơ sở ai cũng háo hức,
chờ đón một niềm vui, một sự kiện lớn mà không thể tưởng tượng cụ thể hay nói
thành lời về nó. Chúng tôi sống, làm việc gấp gáp, khẩn trương. Không khí Cách
mạng làm chúng tôi say sưa đến quên ăn, quên ngủ, quên mệt. Tôi cũng là một Ủy
viên trong Ủy ban cướp chính quyền tỉnh Nghệ An. Cùng cả nước Nghệ An dành được
chính quyền, tôi được cử giữ chức Giám đốc công an tỉnh Nghệ An. Giữa bộn bề
công việc, giữa niềm vui lớn có thể quên tất cả, biết bao việc phải giải quyết
và xây dựng chính quyền còn non trẻ. Lực lượng công an nhân dân mới được thành
lập, công an các địa phương càng mới mẻ hơn, tôi phải bắt đầu mọi việc. Tuy
vậy, tôi cũng hiểu việc cần làm trước mắt là xử lí bọn Tây, bọn tề Ngụy, bọn
phản bội để tê liệt toàn bộ hoạt động của Quốc Dân Đảng phản động. Nhiều việc,
song biết cách tổ chức làm rồi sẽ hết. Cái khó nhất của tôi khi đó không chỉ có
nhiều việc mà là phải tìm cho ra kẻ phản bội, người lầm đường hoặc bị ép buộc
để xử lí nghiêm minh và chính xác, mang lại niềm tin trong quần chúng.
Trong số bọn phản động, có một tên đáng lưu
ý là Đinh Văn Di. Di đã từng là tỉnh ủy viên Nghệ An, là bạn hoạt động vào sinh
ra tử với tôi. Ai ngờ, Di đầu thú với giặc Pháp, nhận làm lãnh tụ của một đảng
có tên là Ăngti Bônsêvic, trực tiếp chịu sự chỉ huy của cơ quan mật thám
Pháp.Tệ hại hơn, Di còn nộp cho kẻ thù toàn bộ danh sách Trung ương Đảng ta và
Tỉnh ủy Nghệ An khi đó. Do chỉ điểm của Di, nhiều đảng viên cộng sản trong đó
có đồng chí Hà Huy Giáp bị bắt…may là Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh trốn thoát.
Tội ác của Di gây tổn thất lớn cho Đảng,
cách mạng. Cũng may Cách mạng thắng lợi hoàn toàn. Chính quyền về tay nhân dân
thì việc đầu tiên là phải trừng trị những tên bán nước hại dân, bán rẻ danh dự
cá nhân và biết bao tính mạng đồng đội như Di là cần thiết. Di sợ chính quyền
mới, sợ bị trừng phạt nên cố tình lẩn trốn. Nhưng cuối cùng các chiến sĩ an
ninh huyện Nghi lộc cũng bắt được hắn. Tôi cho mở phiên tòa công khai xét xử
Đinh văn Di. Nhân dân tới dự khá đông…
Thời gian làm Giám đốc công an Nghệ An của
tôi không đầy nửa năm, nhưng biết bao việc phải làm. Ngoài phân biệt, xử lí bọn
người liên quan tới thực dân, phản động, còn lo giúp đỡ những người trí thức có
tấm lòng với dân tộc nhưng trong hoàn cảnh nào đó chưa thể hiện được. Điển hình
cho lớp người này là hai anh Tạ Quang Bửu và Phan Anh. Trước khi Cách mạng tới,
các anh có tên trong chính phủ thân Nhật ở Huế. Chính quyền về tay nhân dân,
các anh lo sợ chạy ra phía Bắc, tới Quỳnh Lưu thì bị bắt. Được tin đó, tôi điện
cho Quỳnh Lưu chuyển các anh lên Ty công an. Ở đây, tôi làm giấy đảm bảo về
phẩm chất chính trị cho các anh và chuyển ra Bắc. Khi đó không phải không có
người băn khoăn trước việc làm ấy của tôi, nhưng tôi dám chịu trách nhiệm. Vì
biết, các anh dù ở chính phủ nào hoạt động khoa học vẫn là niềm say mê, hạnh
phúc duy nhất.
Đốctờ Hy, cướp chính quyền được cử phụ
trách y tế ở Vinh, có kể với tôi là có một ông người Lào đang sống ở Vinh là kĩ
sư cầu cống, rất yêu nước, đầy nhiệt huyết và cũng rất muốn làm cách mạng giải
phóng cho dân tộc mình. Tôi đã mời ông ấy đến gặp và hỏi chuyện. Và trong
chuyến xe đưa Bảo Đại ra Hà Nội, tôi đã mời ông ấy đi cùng để gặp Bác Hồ, người
đó là Hoàng thân Xuphanuvông.
Một ngày cuối năm 1945, tôi phải khẩn
trương bàn giao công việc mà phần lớn còn trong dự kiến cho đồng chí khác để
trở ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Lệnh trên là phải thi hành nhưng thật lòng tôi
rất phân vân, lưu luyến. Dù sao đây cũng là quê hương, là cơ sở công an địa
phương đã bắt đầu đi vào ổn định. Biết bao nhiêu kế hoạch, dự định tôi hi vọng
thực hiện ở tập thể công an này? Rất may, Trung ương lại cử tôi giữ chức Ủy
viên Quốc gia Bảo vệ cuộc các tỉnh Nam Bộ, trụ sở đặt tại Mỹ Tho.
Bấy giờ Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ do ông
Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch. Phụ trách các ngành thì gọi là Ủy viên, lực lượng
công an thì gọi là Bảo vệ cuộc. Tên gọi có khác nhưng chức năng nhiệm vụ vẫn là
bảo vệ an ninh.
Nếu ở các tỉnh phía Bắc công tác công an
bắt đầu vào ổn định, thì ở Nam
Bộ thời kì này coi như chưa có gì. Tôi đến trụ sở Quốc gia bảo vệ cuộc ở Mỹ Tho
được 3 ngày, đang nghiên cứu văn bản các kế hoạch của tổ chức thì giặc càn tới.
Thực
dân Pháp lợi dụng danh nghĩa đồng minh thường nghênh ngang quấy phá ta như vậy.
Chúng ta không phải là không đánh trả được chúng, nhưng kẻ thù khi đó thật
nhiều, khó khăn nhiều mặt của đất nước thật lớn, đành hòa hoãn với Pháp để Pháp
đẩy đuổi 2 vạn quân Tưởng ra khỏi đất nước.
Khi Pháp tấn công trụ sở Quốc gia Bảo vệ
cuộc, anh em chúng tôi buộc lòng phải chạy, thậm chí còn nhiều lần chạy tán
loạn, không có tổ chức. Lần này, tôi còn lạ nước lạ cái mà trận càn lại quá bất
ngờ. Đêm về khuya, vừa chợp mắt đã nghe súng rộ ở phía bờ sông, nhiều tiếng la
hét, gọi nhau và bước chân chạy huỳnh huỵch, tôi gọi cậu nhân viên, hai anh em
xách vội ba lô tài liệu chạy ra ngoài. Vừa chạy, tôi vừa trao đổi: Mình mới
vào, cậu phải chủ động mà chạy nhé? – Vâng, anh cứ theo em. Tôi chạy khá vất vả
mới theo kịp, chạy đi, rồi lại chạy về. Rẽ ngang, rồi lại rẽ dọc, hầu như chỗ
nào chúng tôi cũng xuýt đụng đầu với giặc. Cuối cùng cậu nhân viên dừng lại
thở: Không thể chạy ra khỏi vùng này được nữa anh ạ!
Chẳng nhẽ lại chịu sa vào tay chùng sao?
Tôi hỏi lại và không hề phân vân lo lắng. Tôi biết, cậu nhân viên đang đứng
trước mặt, tuy mới được giác ngộ cách mạng, nhưng rất trung thành. Bố cậu ta là
một địa chủ trong vùng, loại địa chủ ít mang tính bóc lột, chủ yếu có ít ruộng
đất và căn cơ mà lên. Bọn Bình Xuyên đã đến quấy phá, cướp bóc nhà cậu ta.
Trong hoạn nạn ấy, công an cách mạng biết tin đã kịp thời đến giải vây, cứu cả
nhà. Cảm phục tấm lòng của các chiến sĩ công an, cậu ta tình nguyện làm nhân
viên cho Quốc gia Bảo vệ cuộc, giúp đỡ công an nhiều việc hữu ích.
Cậu ta mắm môi, chau mày suy nghĩ, và quyết
định: Ta đến nhà Luật sư Huỳnh Thái Thông tạm trú. Bọn tây có đến vùng này
thường kiêng nể những gia đình như thế lắm.
Tất nhiên là tôi không phản đối, mà biết gì
để phản đối, tôi lặng lẽ chạy theo cậu nhân viên.
Biệt thự Luật sư Huỳnh Thái Thông rộng và
sang trọng, nhưng giờ đây bỏ không, chủ nhân kéo nhau bỏ trốn từ lâu. Chúng tôi
không kịp nhìn ngắm ngôi nhà, lao ngay xuống bếp tìm cách leo lên trần áp mái,
tuy là trần bếp, nhưng bếp nhà giàu nên khá sạch sẽ và rộng rãi. Chúng tôi nằm
im nghe động tĩnh. Bỗng có ai leo lên trần nhà cũng khá vội vã? Tôi và cậu nhân
viên sẵn sàng tư thế chiến đấu. Khi gương mặt người lạ xuất hiện trên mặt trần,
cậu nhân viên liền à lên sung sướng:
Chào anh, tình hình dưới đó ra sao? Cậu ta
giới thiệu với tôi: đây lá anh Bồi, giúp việc cho Luật sư Huỳnh Thái Thông,
cũng tham gia dân quân trong vùng.
Chúng tôi chẳng kịp bắt tay nhau, vội nằm
bẹp xuống, ngoài cổng dưới sân đã rộn lên tiếng bọn Tây, chúng bảo nhau đây là
nhà Luật sư, không được đốt phá. Nhưng tiếng lợn gà vẫn kêu inh ỏi, tiếng bát
đĩa vỡ loảng xoảng. Chúng vào nhà lục rượu, xuống bếp tìm thức ăn, ăn uống và
cười hô hố.
Khi bọn chúng đi, chúng tôi dục anh Bồi về
qua nhà thăm vợ con, nghe ngóng tình hinh và mua giúp một ít bánh trái. Lát sau
anh Bồi trở lại cùng một làn cói bánh mì. Chúng tôi đói, ăn ngon lành.
Anh Bồi cho biết bọn giặc vẫn đóng trong
làng, đuổi hết dân đi. Rất có thể chúng ở đây mấy ngày, các anh không ở trên
này được đâu. Bọn chúng sẽ lục tìm thấy các anh hoặc các anh bị bao vây đến
chết đói, chết khát, khẩn trương đi đi thôi.
Nhưng đi bằng cách nào? Chúng tôi hỏi anh
bồi như hói người chỉ huy tin tưởng.
Hiện nay bà con đang chạy giặc rất đông, chúng
ta hòa vào dòng người đó. Vợ con tôi cũng phải chạy nên tôi đưa họ đến đây, các
anh xuống đi cùng.
Chúng tôi rời trần bếp, cởi bỏ áo quần dàì
chỉ mặc quần đùi, áo may ô. Tôi bế đứa con nhỏ của anh Bồi, cậu nhân viên xách
làn bánh. Chúng tôi giống như mọi người dân đang chạy loạn ngoài đường. Chạy
tới đầu cầu Trung Lương, bóng dáng bọn Pháp xa dần, làng quê yên tĩnh hơn. Vợ
chồng anh bồi xin phép rẽ ngang về quê ngoại. Cậu nhân viên rẽ qua nhà xem tình
hình gia đình và lấy thêm ít lương ăn. Một mình tôi với làn bánh mì đứng chờ ở
đầu cầu. Có toán lính Pháp trang bị lủng củng, dùng báng súng xua đuổi những
người dân qua cầu. Chúng sắp đến chỗ tôi đứng mà cậu nhân viên vẫn chưa thấy
quay ra? Biết đi đâu bây giờ, tôi như người lạc lối. Không chần chừ được nữa,
tôi bước lên cầu tiến đến bên tên lính gác. Nói tiếng Pháp ư? Không được, nó sẽ
nghi ngờ thành phần nông dân tôi đang sắm vai. Tôi chìa làn bánh mì về phía tên
lính gác, ra hiệu mời hắn ăn. Hán nhón 2 cái, tôi cầm 1 cái, cả hai cùng ăn,
tôi cười chào hắn và lên cầu. Sang đầu bên kia, tôi cũng mời tên lính gác như
vậy và qua cầu an toàn. Con đường bên này cầu ngổn ngang cây cối, nhân dân đẵn
cây, quăng bàn ghế chặn xe giặc. Một chiếc xe nhà binh len tới, tiến tới đầu
cầu, dừng lại ngay cạnh tôi.Trên xe lố nhố bọn lính Pháp, một tên nhảy xuống xả
một tràng tiếng Pháp cộng thêm các động tác tay chân: Hắn nhờ tôi dẫn đường.
Tôi hiểu ngay nhưng giả vờ sợ hãi co chân chạy sang con đường ven sông. Tên
lính Pháp tức tối chửi tục và rút súng nhè hướng tôi chạy xả hết băng đạn. Cũng
may, tôi lăn xuống rãnh nước cạnh đó. Chiều, tôi ngồi lại một chiếc lều cất vó
bỏ hoang, hi vọng tối có điều kiện sẽ thoát ra khỏi vòng vây kẻ thù. Không ngờ
cậu nhân viên từ nhà quay ra cầu Trung Lương không thấy rôi, đi tìm khắp mấy vùng
lân cận, cuối cùng thấy tôi nằm còng queo trong lều hoang. Cậu nhân viên vẻ ân
hận: em ra muộn một tí, làm anh khổ quá, cũng may mà còn sống. Bây giờ không đi
đâu được anh ạ, bọn chúng bao vây chặt lắm, anh về qua nhà em rồi chúng ta định
liệu sau.
Gia đình cậu nhân viên tiếp tôi như một vị
khách quý. Nhưng tôi làm sao yên tâm với ân huệ đó, ở mãi đây cũng sẽ bị lộ mà
cuộc họp công an các tỉnh Nam Bộ tổ chức ở Bến Tre sắp khai mạc rồi. Cuộc họp
này tôi vừa đề xuất vừa chủ trì. Gia đình cậu nhân viên cố thuyết phục tôi ở
lại không được. Đành lấy quần áo, thức ăn, thuê thuyền cho tôi tới Bến Tre.
Thuyền đi trong kênh rạch suốt một ngày,
xẩm tối tới Rạch miễu thuộc đất Bến tre. Tôi cặp thuyền lên bờ, mảnh đất dưới
chân tôi mát rượi, không khí chung quanh trong lành, thơm phức mùi cây lá, hoa
quả và cỏ dại. Đất tự do, đất của ta mà. Tôi đi người không, bộ quần áo, tài
liệu đáng kể đều dấu kĩ trên trần bếp nhà luật sư Huỳnh Thái Thông. Khi tình
hình yên ổn, cậu nhân viên sẽ quay lại đó lấy giúp tôi. Còn bao việc phải lo,
trời lại sắp tối nhưng tôi chẳng quan tâm tới điều gì vì sống trong đồng bào,
đồng chí mình cần gì phải lo lắng. Mấy ngày chạy giặc vừa qua gian khổ, lạ lùng
là thế, vậy có nhân dân giúp đỡ, tôi vẫn thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù…
Tôi vội khựng lại, vì trên mảnh đất phẳng
khá rộng cạnh đường, có một toán người đang cãi vã, chửi rủa. Đối tượng bị mắng
nhiếc thậm tệ là người đàn ông da đen, cởi trần, bị trói chặt vào gốc cây bằng
dây thừng. Tôi lắng nghe và hiểu ra là người đàn ông da đen là tù binh sắp bị
toán công an địa phương xử tử, mà kì lạ thay, người ta quyết định xử tử tù binh
bằng mổ bụng.
Tôi lao vào giữa đám người: Xin các đồng
chí hãy dừng tay!
Một người còn trẻ, cao lớn túm lấy cổ áo
tôi hỏi lại: Anh là ai? Từ đâu tới, sao dám đồng chí với chúng tôi?
Tôi cũng là công an, đề nghị các đồng chí
xử tử tù binh bằng súng, đừng mổ bụng như thời thượng cổ thế.
Chúng tôi sẽ bàn đến anh sau, việc chúng
tôi thì mặc chúng tôi – Một người già nhất trong toán lên tiếng. Đôi mắt người
da đen không bịt vải, mở trừng trừng, như nói với tôi rằng anh bị oan ức. Những
ngày tiếp theo đôi mắt người tù binh cứ ám ảnh tôi mãi, buộc tôi phải tìm hiểu
về anh. Đó là chuyện của những ngày sau, còn bây giờ, tôi thay anh làm tù binh
của toán công an địa phương. Ngoài lời tự giới thiệu đường đột của tôi, ai biết
và ai dám khẳng định tôi là người như thế nào. Tôi không muốn thanh minh, không
muốn hỏi thêm gì. Đành làm tù binh của họ, sẽ tìm được đến chỗ các đồng chí chỉ
huy, đỡ hỏi thăm. Nghĩ vậy và tôi lẫm lũi đi, đầu óc sắp đặt chương trình cho
cuộc họp công an các tỉnh Nam
Bộ sắp tới.
Toán công an địa phương đưa tôi đến trụ sở
công an Bến Tre. Gọi là trụ sở cho oai, thực ra là một gian nhà nhỏ của một
người nông dân cho mượn. Tôi được họ cho ngồi bên mép phản gỗ, tất cả bỏ đi,
duy một chiến sĩ trẻ mang súng trường đứng ở cửa, anh ta được lệnh canh giữ
tôi. Thỉnh thoảng anh ta lại nhìn tôi đầy lạ lùng và cảnh giác. Tôi vẫn im
lặng, không chú ý đến bất cứ thứ gì kể cả anh lính gác cửa, đầu óc tôi đang sa
vào những dự kiến sắp tới cho công an Nam Bộ.
Lát sau có tiếng lao xao đầu hồi:
.Ông ta bảo là công an à?
.Vâng.
.Đã xem giấy tờ chưa?
.Chưa ạ.
.Đáng nghi ngờ đấy, liều thật, dám can
thiệp vào việc xử tù. Thôi, ta vào nhà xem thử.
Hai người xuất hiện, một có mặt trong toán
công an ban nãy. Một già dặn đường bệ nhanh nhẹn hơn, ra dáng chỉ huy ở đây.
Vừa bước qua bậc cửa, anh ta nói luôn:
.Tôi là Sách, Trưởng ty công an Bến Tre.
Anh nói anh là công an, cho xem giấy tờ?
Tôi lần cạp quần lấy ra mảnh giấy nhỏ trao
cho Sách. Sách hết nhìn tờ giấy lại nhìn tôi, hết ngạc nhiên chuyển sang nghi
ngờ: Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam
Bộ Phạm Văn Bạch giới thiệu Giám đốc quốc gia Bảo vệ cuộc Nam Bộ?
Sách lẩm bẩm như nói với chính mình, rồi
quay sang tôi:
.Nghĩa là tôi đang tiếp kiến với “ngài Giám
đốc” công an các tỉnh Nam
Bộ, “thủ trưởng” trực tiếp của tôi?
.Đúng thế đấy, tôi khẳng định.
.Thế thì “thủ trưởng” sa cơ lỡ vận gì mà
đến nông nỗi này?
.Tôi chạy càn. Trả lời thế nhưng tôi không
tin là đồng chí trưởng ty kia hiểu ra. Cứ bằng câu mỉa mai vừa xong là thấy rõ
điều đó.
.Tôi chẳng tin anh đâu, ba thứ giấy này –
anh ta chỉ vào tờ giấy giới thiệu có chữ kí của ông Phạm Văn Bạch – bọn mật
thám Sài Gòn làm được hết!
Sách bỏ tôi ngồi lại đó đi làm việc khác.
Có tiếng báo cáo của anh lính gác cửa:
.Thưa đồng chí trưởng ty, chúng tôi phải xử
lí tên tù binh này thế nào ạ?
.Xử tử, cho “mò tôm”.
.Về tội gì ạ?
.Tội can thiệp vào việc xử án của công an!
Thì ra họ nói về tôi. Họ định giết tôi thật
ư? Đến nước này thì quá lắm.
Tôi chạy ra gần cửa gọi theo Sách: Ông
trưởng ty dừng lại cho tôi nói cái đã?
.Ông nói đi? Sách dục, và biểu hiện ít quan
tâm.
.Ít ra ông cũng phải hỏi tôi đến đây làm
gì? Định giết tôi thì cũng hỏi lại cấp trên xem sao chứ?
.Tôi có quyền làm điều đó! Sách vẫn không
chịu nhượng bộ. Nhưng rồi Sách cũng hỏi:
.Thế anh đến đây làm gì? Gặp ai?
.Tôi đến Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre gặp
ông chủ tịch Cái, chính ông Cái này mời tôi qua làm việc. Không may lại bị giặc
càn bên Mỹ Tho nên tôi mắc kẹt.
.Ông Cái mời anh sang hả? Thôi được, anh
chờ tôi hỏi ông ta.
Sách sang một buồng nhỏ phía dưới nhà, ở đó
vọng lại tiếng tiếng quay điện thoại rè rè đều đều, tôi yên tâm.
.A lô, tôi xin gặp đồng chí Chủ tịch Tỉnh?
A lô, bác Cái đấy à, chào Bác. Ở chỗ tôi có đồng chí giám đốc công an Nam bộ, bác
mời đến trao đổi phải không? Vâng vâng, đúng là anh ấy bị rỗ nhẹ ạ. Vâng, thế
mà xuýt nữa tôi cho anh ấy đi “mò tôm” đấy ạ…tôi thật non nớt, nông nổi quá.
Vâng, bác sẽ đến ngay ạ.
Sách bỏ điện thoại chạy vội lên nhà lao đến
nắm hai vai tôi, xuýt xoa ân hận:
.May quá, xút nữa tôi giết anh rồi.
Nhìn vào mắt, tôi thấy anh ân hận thật sự.
Sau này ở lớp học nghiệp vụ anh là người năng nổ, ham học hỏi nhất. Anh đặt ra
bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu tình huống có thể gặp, nhờ tôi bày vẽ cách xử lí.
Một tiếng đồng hồ trôi qua, sau khi Sách
giúp tôi tắm giặt, ăn uống, xe của ủy ban nhân dân Bến Tre do ông Cái cử xuống
đến tận trụ sở công an tỉnh đón tôi. Ngồi trên ôtô thỉnh thoảng tôi lại cười
một mình: cuộc đời cách mạng thật lắm chuyện, không thể quên.
Tôi làm việc ngay tại trụ sở Ủy ban tỉnh.
Ngoài việc chuẩn bị mọi mặt cho công an các tỉnh Nam Bộ, tôi tích cực tìm hiểu
tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội, trình độ nghiệp vụ, tinh thần làm
việc của cán bộ chiến sĩ công an ở địa phương, bổ sung chi tiết thực tế cho bản
báo cáo chung.
Qua tìm hiểu tôi nhận thấy lực lượng công
an có nhiệt tình cách mạng, không ngại gian khổ hi sinh, căm thù giặc sâu sắc.
Nhưng khi xử lí các vụ việc cụ thể lại rất ấu trĩ, non nớt nghiệp vụ dẫn đến
giải quyết ít công minh chính xác. Có nhiều vụ việc gây oan sai cho nhân dân.
Tôi xác minh vụ xử tử người tù binh da đen
hôm nào thì thực tế thật đau lòng. Người tù binh này gốc Ấn Độ, trong này
thường gọi là người Chà Và, lính đánh thuê cho Pháp. Bản chất lương thiện, anh
chán ghét chiến tranh bỏ trốn khỏi quân ngũ, về sinh sống ở vùng quê người con
gái anh yêu. Anh đã ở đây 3 năm có vợ và có con. Trong một trận giặc Pháp càn
vào Bến Tre, anh cùng vợ con tản cư. Đang nghỉ tạm ở một ngôi chùa, dân quân
đến bắt anh đi, mặc cho vợ con kêu khóc và bà con cùng tản cư thanh minh giúp.
Anh bị giải về công an tỉnh vì tội bắn vào dân thường và bị xử tử oan. Sự thể
là Tây đến càn ở Rạch Miễu, du kích chống trả không được, rút lui. Tây bắn, lại
vào một phụ nữ đang có mang. Đứa con gái 9 tuổi đi cùng chị còn sống, khai rằng
bị một người da đen bắn mẹ rồi chạy theo hướng những người tản cư. Du kích truy
lùng và bắt luôn người da đen xấu số đó.
Đọc
báo cáo của công an An Hòa về việc xử tử 3 người quê Bắc Ninh vì tội làm gián
điệp, vì họ cho là những người này đi tàu thủy đột kích vào làm gián điệp cho
kẻ thù. Tôi không thể bằng lòng với chứng cứ họ đưa ra, liền xin phép ông chủ
tịch tỉnh xử lại vụ này? Ông Cái đồng ý. Tôi cho chuyển 3 tù binh đó lên công
an tỉnh, tổ chức một ban xử lí án gồm nhiều công an, dân quân. Tôi bảo: đây
nhé, các anh xem họ đi đường bộ hay đường thủy? Tôi tách 3 người ra hỏi cung,
tôi hỏi rất đơn giản: các anh bảo đi đường bộ thì có vào quán nào ăn cơm không?
Đàn ông hay đàn bà bán hàng? Già hay trẻ? Bàn ăn là gỗ hay tre? Có món gì? anh
ngồi đây thì hai người kia ngồi chỗ nào…thế thôi, vì họ thông cung từ trước thì
không thể trả lời giống nhau những chuyện lặt vặt như thế được. Yêu cầu trả lời
chi tiết từng ngày, từng giờ quá trình đi từ Sài Gòn đến Bến Tre? Cả 3 đều trả
lời hoàn toàn trùng hợp quá trình lặn lội đó, kể cả những chi tiết nhỏ nhất.
Chứng tỏ họ đi đường bộ từ Sài Gòn đến và làm nghề thợ nhuộm, mọi người nhất
trí như vậy. Tôi quyết định thả 3 người dân lương thiện đó.
Sau buổi xử án 3 người dân lương thiện ấy,
mỗi cán bộ, chiến sĩ công an Bến Tre bước đầu nhận thấy sự yếu kém trong nghiệp
vụ của mình, họ đề nghị tôi xử lại một số vụ án trước đây. Tôi lập tức lợi dụng
yêu cầu này mở lớp học tập nghiệp vụ xét hỏi, thông qua các buổi hỏi cung thực
tế cho cán bộ chiến sĩ công an Bến Tre. Hầu hết họ đều tích cực học hỏi.
Tìm hiểu hồ sơ, xác minh thực tế, tôi cho
thả gần 2000 người vô tội: có người gốc Nam Bộ theo đạo Thiên Chúa, cũng bị
bắt. Một cha cố vì tiết kiệm xé một mảnh ở lá cờ Tam Tài để lau cối giã trầu,
cũng bị bắt. Một thanh niên đội mũ xanh, mặc áo trắng, gài bút đỏ túi ngực cũng
bị giải về công an, vì 3 màu đó là 3 màu cờ Tam Tài- cờ Pháp. Quả là bắt vô tội
vạ, thiếu căn cứ, rất cảm tính.
Bây giờ lực lượng công an trưởng thành
không ngừng, không thể có những ngờ nghệch như thế xảy ra. Nhưng chúng ta phải
ghi nhớ những ngày sơ sinh yếu kém, không ngừng phấn đấu vươn lên, không chủ
quan tự mãn với kiến thức kinh nghiệm đã có, để xứng đáng với lòng tin yêu của
nhân dân. Trước những non nớt ngày đầu mới thành lập, nhân dân rất thông cảm
với công an, không trách cứ thành lời, song lòng không ưng…Như một hình thức tự
phê bình và kêu gọi sự tin yêu của quần chúng, tôi viết một thông báo “Công an
phải đoàn kết với nhân dân, với mọi tôn giáo, đảng phái”. Trong thông báo tôi
nhắc nhở nhân dân giám sát, góp ý phê bình, giúp đỡ công an. Thông báo được
nhân dân rất hoan nghênh. Có những nhà giàu ở Sài Gòn, sau khi đọc thông báo đã
bỏ tiền in tiếp hàng vạn tờ, phân phát, niêm yết khắp nơi. Điều đó chứng tỏ
nhân dân ta yêu nước thiết tha, tinh thần vị tha cao cả. Họ thật công bằng khi
đánh giá công an, không lấy một vài vụ việc non nớt về nghiệp vụ, để lấn lướt
thành tích của công an là bảo vệ an ninh
đất nước non trẻ lúc đó.
Hội nghị công an Nam Bộ gồm bí thư, chủ
tịch, trưởng phó công an các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre được tổ chức tại Bến
Tre, với sự tham dự của đồng chí Tôn Đức Thắng, một nhà cách mạng vừa từ nhà tù
Côn Đảo của bọn thực dân trở về. Hội nghị bàn bạc khá nhiều việc, trong đó xác
định tăng cường xây dựng đội ngũ công an về số lượng và chất lượng. Giải quyết
dứt điểm việc xử lí bọn tề ngụy, Việt gian cũ. Dựa vào dân xây dựng phong trào
nhân dân tham gia giữ gìn trật tự trị an, giúp đỡ công an hoàn thành nhiệm vụ.
Về tổ chức cần có cán bộ quân sự xuống tận cơ sở để tách nhiệm vụ quân sự, an
ninh riêng biệt, và cần thêm một số vũ khí, khí tài.
Để đạt được mục đích kể trên, tôi cần trở
ra Hà Nội xin ý kiến Trung ương.
Trở vào đã khó, trở ra cũng không kém khó
khăn. Đồng chí chủ tịch Cái bố trí cho tôi đi nhờ một ghe bầu (loại thuyền buôn
khá lớn), chở đầy gạo theo đường biển ra Bắc. Thuyền cập mũi Kê Gà thuộc tỉnh
Phan Thiết, vừa đặt chân lên mũi Kê Gà tôi bị dân quân địa phương bắt luôn và
giải về Ủy ban hành chính huyện! Đồng chí Chủ tịch huyện khá nhạy cảm, mềm mỏng
và lịch sự, hào hứng nghe tôi trình bày. Nhưng vốn cẩn thận, anh chuyển tôi
tiếp lên Ủy ban hành chính tỉnh Phan Thiết. Rất may, Chủ tịch tỉnh là một đồng
chí bị cầm tù ở nhà tù Đăckmil với tôi, cùng quê Nghệ An. Thay cho cuộc “Thẩm
vấn”, chúng tôi mở tiệc, kiểu nhà
tù, mừng cuộc gặp gỡ. Và suốt đêm nói
chuyện về tình hình đất nước, Quê hương, bạn bè, đông chí…
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, tôi đã
có bao lần công tác, bao lần ra Bắc vào Nam. Nhưng lần ra Bắc này tôi nhớ
nhiều, đó là cuộc gặp Bác Hồ.
Vừa về cơ quan, tôi thấy một chiến sĩ trẻ
hỏi thăm để tìm tôi? Mời tôi lên gặp bác Hồ. Tôi cũng lạ, sao Bác biết tôi đã
về? Vừa đến cửa, tôi đã thấy Bác đi ra bắt tay tôi rất chặt và tươi cười hỏi:
.Chú trở ra vất vả lắm có phải không? Mất
hơn 10 ngày rồi còn gì, nào uống nước đi.
.Sao bác biết là tôi đã ra? Tôi mạnh dạn
hỏi lại Bác.
Bác Hồ đặt chén trà nóng trước mặt tôi rồi
nói tiếp:
.Ông Bạch gọi điện ra nói cho tôi biết, tôi đã thông báo anh em chuẩn bị
mọi thứ trong đó cần để khẩn trương chuyển vào.
Chú yên tâm đi, bây giờ, chú kể mọi chuyện trong đó cho tôi nghe.
Tôi say sưa kể với Bác về những gì mình
nhìn thấy, nghe thấy, dự đoán thấy ở nửa đất nước phía nam. Bác lắng nghe chăm
chú, thỉnh thoảng yêu cầu tôi kể tỉ mỉ hơn. Cuối cùng bác hỏi: Theo chú, đồng
bào Miền Nam
có tin chính quyền mới không? -Rất tin ạ.
Bác bảo: Đấu tranh giành được đất nước về
tay nhân dân, để giữ vững, củng cố lòng tin của nhân dân với chính quyền, công
an các chú phải chủ công thực hiện. Dân đã thấy ta cướp chính quyền từ tay kẻ
thù, dân đang theo dõi ta giữ chính quyền ra sao?
Những năm sau nữa tôi còn nhiều lần gặp bác
nhưng lần trao đổi này cởi mở, kéo dài hơn cả.
Ít ngày sau, tôi áp tải chuyến vũ khí đầu
tiên vào Nha Trang, ở đó có người đón đợi tiếp nhận. Tôi quay ra nhận nhiệm vụ
mới, tôi được điều về làm Phó Giám đốc Công an Bắc bộ, phụ trách Điệp báo.
*
* *
Ngày
12.7.1946 ông đã chỉ huy lực lượng Công an đột kích vào 132 Đuvineau (nay là
Bùi Thị Xuân, Hà Nội) đập tan từ trong trứng âm mưu đảo chính của thực dân Pháp
kết hợp với bọn Đại Việt trongViệt Nam Quốc Dân Đảng, định tiến hành vào ngày
quốc khánh Pháp 14.7.1946. Sau này gọi là vụ án Ôn Như Hầu, và ngày 12.7 trở
thành ngày truyền thống của lực lượng An ninh Việt Nam.
Ngày
27.9.1950 ông đã cho nổ tung chiến hạm Amiođanhvin ngoài khơi biển Sầm Sơn,
Thanh Hóa. Kết thúc có hậu của hoạt động điệp báo, gọi là A13, đập tan âm mưu
đánh vào vùng tự do khu 4 của thực dân Pháp. Một chiến công oanh liệt của công
an Việt Nam.…
Và
ngày 11.8.2011(12.7 Âm lịch) Làng Thúy Lạc, Tiền Hải, Thái Bình đã rước chân
hương trên bàn thờ ô.Nguyễn Tạo về làm Thành Hoàng Làng, một vị Phúc Thần che
chở cho dân. Bởi một câu chuyện xa xưa là ô. Nguyễn Tạo đã động viên dân hai
làng Thúy Bông, An Lạc ở Hưng Hà các xa 70 cây số, về đây. Để lập lên làng Thúy
Lạc trù phú ngày nay.
Đúng
như ông Mười Hương, người Lãnh đạo cơ quan tình báo chiến lược một thời, đã
nói: Ông Nguyễn Tạo là con người của lịch sử.
11.11.2011
NS giới thiệu