Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN




Li nói đầu và li tác gi .


Mỗi người chúng ta sống trên mảnh đất Việt Nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng Hà xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kông đổ ra Biển Đông bằng chín dòng sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long Giang .  Mỗi người và từng người sống qua một thời nghèo nàn , cực khổ và oanh liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc Việt Nam , một dân tộc với Văn minh Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài người  còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ quốc ta trong hòa bình  đều là những thiên tiểu thuyết cuộc đời con người  mà những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được  từng  nét, từng nét , mà rất khó có thể có một tác phẩm văn học nào lớn  đủ cho Nó .

     Bởi vậy những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân ai đó ngỡ là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là những viên gạch đã được nung chin từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những tòa biệt thự văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử Việt Nam .

     Năm 2012 , cuối năm , sau một vòng tròn trên không dưới đất NamĐinh –Hà Nội –Sài Gòn –Hải Phòng –Hà nội –Nam Định liên lạc với  đồng đội –học viên Trường Đại học kỹ thuật quân sự việt Nam Khóa thứ nhất –C213  được nối lại sau nhiều năm tôi không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân đội từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cát rốn của mình .

  

 Viết hồi ký này  có lẽ bắt nguồn từ  ý tưởng của Nghiêm Sỹ Chúng . .

Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng – Phó Tiến sỹ khoa học kỹ thuật = Tiến sỹ

  Gửi thư cho đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến Viện Nghiên cứu kỹ thuật  quân sự V.,N cũng như vậy từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa ( Trường Kỹ thuật Quân sự Vin –Hem –Pích )     .

     Xin chép ra đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng  .

Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang hồi ký của tôi từ khi về trường Đại học cho tới khi tôi về nghỉ hưu không ai biết đến .

   



Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS


Các bạn thân mến,


Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát động những đợt viết hồi ký về nhà trường và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong ký ức (10-2011) gồm khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV trong suốt 45 năm qua. Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học viên khóa 1 chúng ta tham gia rất ít.


            Những chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi chúng ta lâu nữa!


            Chúng tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là thời kỳ 1971 – 1975.

-          Bài viết bao gồm các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.     

-          Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.

-          Mỗi người nộp cho một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).


Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ 71/14 phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email: ttbinh2@yahoo.com

Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.

Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em chúng ta, Cảm ơn!


TM BLL học viên khóa 1

Nghiêm Sỹ Chúng



 NĂM THÁNG KHÔNG  QUÊN


Thay lời đầu và lời tác giả

Cho toàn tập hồi ký

           

“Những chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi chúng ta lâu nữa!


            Chúng tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là thời kỳ 1971 – 1975.

-          Bài viết bao gồm các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.     

-          Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.”( Trích Thư của Nghiêm Sỹ Chúng)

 TRÊN THỦ ĐÔ

Tháng Tư















Đ ẤT  TH ÁNH__H À N ỘI


Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một chớp mắt của thế kỷ mà thôi . Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây đó tên gọi của chúng đối với ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo , Quang Trung , Các tên trường học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn  , Lương Thế Vinh và vân vân .. Nhưng trong tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình , và tôi lại nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường  và đi trên khắp miền của Tổ quốc thân yêu .

  Trong những ngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư quân sự của Trường Đại học kỹ thuật quân sự trong buổi Lễ Tốt nghiệp . chúng tôi đón Tướng Vương Thừa Vũ , Trần Đại Nghĩa về trường và Đại tá Chính  uỷ kiêm Hiệu trưởng Đặng Quốc Bảo cùng nhiều Đại tá khác trong suốt buổi lễ với bầu không khí hân hoan bởi khoá kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam , buổi lễ thật  trịnh trọng tuy không có mũ áo cử nhân như hôm nay , chỉ những bộ quân phục với quân hàm học viên sỹ quan quân đội , bởi chúng tôi chưa có quyết định quân hàm cho từng người .  Thế mà , bây giờ tên các vị tướng ấy đã là tên đường phố , tên trường học , và có học viên đã là Trưởng khoa của trường mang tên người  làm lễ tốt nghiệp cho mình và  tôi cảm thấy như thời gian ngừng trôi , bởi chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến tuổi tác của mình mà chỉ thấy mới như sau một đợt chiến dịch mà thôi.

    Sau lễ tốt nghiệp, chúng tôi trở về doanh trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo dựng đứng để chuẩn bị cho Những ngày Vượt Trường Sơn khi có lệnh vào chiến trường Miền Nam  . Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường vượt của chúng tôi tuy ngắn hơn đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng đứng và đường hành quân hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến đột nhập hẳn Tam Đảo bất chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức , cùng ba lô và hành trang tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi và được khích lệ bởi các đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên chạy trên đường sắt mà trên khu nhà bốn tầng xây dở dang , hoặc đâu đó trước cổng trường chúng tôi thấy mỗi chiều khi ‘hoàng hôn gần buông hoặc khi trời chiều miền trung du đầy gió .

   Sau nhận quyết đinh quân hàm thuộc hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận ngay địa điểm nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ niệm này ..

  Tôi được nhận Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66  Bộ Quốc phòng tại Hà Nội .

     Lần lượt chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu những chặng đường mới trên vai trách niệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự trưởng thành vợt bậc qua  năm năm học tập và rèn luyện trong trường với lòng yêu thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội của tôi , tôi thấy chỉ có mình tôi và đợi cho đến cuối cùng  mới được đồng chí phụ trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn Văn Trình  đại đội chuyên tu khóa 1  về Cục Vật tư ở Bưởi .

Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư quân sự được thông báo về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo ba lô lên Tàu Điện bên vườn hoa về Bưởi .

 Cục Vật tư bấy giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây , đối diện ở bờ bên kia là khách sạn Thắng Lợi nhô ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .

 Anh Trình được quyết định  Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa chữa của Cục bên Gia Lâm  , còn tôi nhận quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch  Cơ quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .

  Cũng trong khi đợi ở gian nhà lá chờ  gọi là phòng khách tôi ngẫu nhiên gặp lại Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân ở Căn cứ II –năm xưa - Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh , theo  Nhơn nói là để đi B , và bấy giớ nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy của Cục dưới Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng từ Quân chủng Hải Quân  chuyển giao sang để hợp thành nhà máy mà tôi làm trợ lý xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và tôi chỉ nhận nhau sau gần 9 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và đi các đơn vị bờ biển   ; không kịp chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cục còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi tôi đoán rằng : Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường 45 Quảng Yên – Quảng Ninh mà năm đó tôi đã xin ở lại Khu Tuần phòng Hải Phòng không đi học , sau khi rời đoàn không số xuống tàu Tan-kít  rồi lên trạm sửa chữa Hải Phòng .
                                            

NHỚ NHỮNG NGÀY BÊN BỜ HỒ TÂY
Sau những năm thiết kế và chỉ huy thi công nhà máy T 606 cục Vật Tư bấy giờ , năm 1974 tôi nhận quyết đinh về lại Cục Phòng Tổ chức kế hoạch sau khi hoàn thành lắp đặt xong toàn bộ hệ thồng cung cấp và phân phối mạng Điện Hạ Áp cho Nhà máy để thiết kế tiếp theo hệ thống chiếu sáng cho dãy nhà 2 tầng làm khu nhà Hành chính T-606 . Vừa thiết kế xong thì Cục Giao cho tôi và anh Hồ Ngọc An Trợ lý –Trung úy –Kỹ sư xây dựng , thiết kế và hướng dẫn thi công một khu làm việc , nghỉ ,và họp phụ của Tồng bí Thư Lê Duần trên khu đất kề bên cơ quan Tôi bấy giờ , và được biết để T.B.T khi cần thiết yên tĩnh , xa Thủ phủ khi làm việc , lúc nghỉ ngơi hay các cuộc họp .

   Tôi nhận trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện , nước trong nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu vực nhà của các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà  .

    Thiết kế ánh sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng tôi được phê duyệt trực tiếp với  Cục Trưởng  trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong ( Bản chính  – trên Giấy Can) .

    Trong những ngày ngồiThiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm Các kỹ sư và vài cô Thợ Can .

   Tôi còn nhớ : hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu , không để ý đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng vào Đại tường cùng vài cán bộ đi theo đến hiên trước phòng , tôi mới bỏ cây chì nhìn ra thì Đại Tướng đã đứng ngay cạnh bàn làm việc của tôi và hỏi :

__ Đồng chí học gì ?


 Tôi lúng túng không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đã vẽ hình dáng đèn góc phản xạ riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng Bí Thư đang được xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm vụ một việc kỹ thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời  ;

  -- Tôi học ở Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .

Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :

 --Kỹ thuật Quân sự sao lại làm cái này ?

 Tôi chưa biết trả lời ra sao thì  đứng ngay sau ĐaiTướng là Cục Trưởng

 Ông rất nhanh trí và trả lời ngay :

   --Việc này cũng thuộc về Điện .

 Đại tướng rời khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến nơi tốt nghiệp rất thân tình và quan tâm .

   Tôi gặp Đại Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự gần gũi , tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí không phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt nam . . những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống Cục tôi để bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
Công việc xây khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh chiếm tây nguyên diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận Kỹ thuật nên không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
   Trong những ngày thiết kế , tôi phải tìm giáo trình học them và nghiên cứu về những việc mà chưa được học trong trường như thiết kế chiếu sáng điện sinh hoạt và đặc biệt là chiếu sang bằng đèn Huỳnh quang , cũng như vậy với tri thức , giáo trình thiết kế xưởng sửa chữa và sản xuất Dân dụng mang tính Quốc phòng mà trong trường lại là những trận địa T_ Tên lửa và Pháo 100  

  Một chiều ,tôi từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô văn thư thân với tôi bảo rằng :
  __Anh có quyết định đi B đấy .

 Tôi nói :
 __Không biết , mình vừa bên Khu B về !
    Hôm sau , Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn  cũng cấp với tôi – Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó  Ngô Kỷ đi B .

  Đó là khi vừa giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có năng lực và biết ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau khi quân ngụy tháo chạy .

   Khi từ Ban Mê về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ Grande La Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốn Petite La Rouss . Nó gồm 24 cuốn khổ Letter , một cuốn cho một chữ cái pháp ngữ .

       Khi đó  tôi có quyết định đi B là văn bản do văn thư đánh máy để xin chữ ký Cục trưởng  nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ  phải dừng  công việc khu B , nếu tôi đi Ban –Mê- Thuột như điều động của phòng cán bộ -chính trị Cục  .

     Kể từ khi giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh vào Sài Gòn dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng của bộ giao cho Cục chúng tôi .  Trong thời gian gọi là Chiến Dịch Hồ Chí Minh và khi hoàn thành , giải  phóng Sài gòn ,thì chúng tôi cũng đã hoàn thành xong khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.

     Trong những ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp Tổng bí thư Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng Xuồng máy từ phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía nam ra .

  _Trong một ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ phía khách sạn ghé lên Khu B   Phía ngoài Khu B cạnh đường là một trường tiểu học . khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học sinh tiểu học quanh đấy gọi nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng than mật chuyên trò thăm hỏi .Khi đó Thủ Tướng gầy gò lắm

   Những lần đi bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận tốt đẹp về các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần gũi nhân dân và được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Từ người già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .

    Đối với Đại Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một chỉ huy , một Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân việt Nam .

Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .

     

Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường các kỹ sư quân sự khóa 1 , sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục vụ cho cuộc kháng chiến giành đọc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương tiện chiến tranh là quan trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở lai hậu phương trong các cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn kỹ thuật quân sự trong cuộc chiến .

     Hng Ngày B52 M

Di bom xung Hà Ni
ừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ lý xây dựng nhà máy và lao vào công việc bổ túc tri thức loại hình thiết kế mà trong trường chúng tôi chỉ được học đúng theo hệ kỹ thuật quốc gia bấy giờ . cho nên , khi Thiết kế các phân xưởng sửa chữa cũng như thiết kế các hệ thống Dân sự , tôi phải “tự” đào tạo ;­học và nghiên cứu phù hợp với các công trình dân sự mang tính quốc phòng chứ không phải các trận địa tên lửa hay Pháo 100 , hay một trận địa RA Đa nào đó . Trong đó cần tự học và nghiên cứu thiết kế nhà máy , phân xưởng Sản xuất và sửa chữa Công nghiệp ; và hệ thống chiếu sang  cho công nghiệp  mà trong trường nó nằm ngoài chương trình đào tạo ; do đó tôi phải học thêm và nghiên cứu qua giáo trình mới , tìm trong Thư viện Khoa học Kỹ Thuật TW__ Lý Thường Kiệt bấy giờ ; Khó khăn không phải gặp kẻ thù như ngoài chiến trường , tiền phương mà phải tiếp cận với cái mình chưa được học , cho nên phải Tự học trên giáo trình mới và trên thực tế các xí nghiệp bấy giờ . còn chiếu sáng bấy giờ .

  Những ngày nóng nực dưới trời Thủ đô , đúng là nắng lửa , đúng vào dịp chiến tranh phá hoại của miền Bắc của Mỹ leo đến mức ác liệt và chúng kiên quyết nhất , trường Đại Học Bách khoa phải tạm  dừng học tập để sang phục vụ quân đội . Đó cũng là thuận lợi cho tôi khi vừa ra trường và cùng phối hợp với các giảng viên Đại học Bách khoa cùng thiết kế và bảo vệ thiết kế , cũng như sự kiểm soát thiết kế của tôi bấy giờ do một vài Phó tiến sỹ phối hợp .

   Công việc thiết kế nhiều , bản vẽ lắm  , nơi làm việc không thể tập trung và khó có thể xa Hà Nội đến nơi sơ tán của Bách khoa , , nên tôi làm việc ở cơ quan bên bờ hồ tây phia Bưởi thường phải đi theo dõi và phối hợp trong trường Bách khoa cuối đường tàu điện , nhưng chiến tranh không thể ngồi tầu điện mà phải cuốc bộ đi làm việc bởi mới về cơ quan chưa có xe đạp phân phối để công tác . Đó cũng là những tháng ngày cũng tốn nhiều sức lực trong khi đó các đồng đội tôi , bây giờ tôi mới biết , rất đông đang lăn lộn trên chiến trường Miền nam và các quân đoàn cơ động , còn tôi chỉ mệt nhoài giữa Thủ đô mà thôi . .

       Ở Hà Nội cho đến khi tôi chuyển ngành ra ngoài , những ngày  Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống Thủ đô ta cũng là những ngày không thể nào quên của tôi trên đất Thăng Long  Hà Nội .,cùng với những năm tháng sống trong lòng Hà Nội .

.  TRONG 12 NGÀY ĐÊM

HÀ NỘI DƯỚI BOM MỸ
    Cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam của Mỹ đang ở gian đoạn ác liệt nhất thì chúng tôi trong trường , khi tốt nghiệp , có thời gian bọn mỹ buộc phải tuyên bố “ném bom hạn chế “ bởi vì càng dung nhiều phi cơ pháo đạn dội xuống miền Bắc càng thiệt hại gấp bội mà không khuất phuck nổi Việt Nam ta , còn bị thế giới lên án . trong thời gian mỹ ném bom hạn chế trên  một số tuyến đường phia bắc vào Nam  Đoàn quân của các kỹ sư quân sự khóa 1 như Lê Tùng Sơn đã viết : dong cờ sao vàng trên nền xanh đỏ tranh thủ đi ngày đi đêm vào sâu trong chiến trường Đông Nam Bộ , còn trong lòng Thủ đô Hà Nội nhân dân yên ổn và tranh thủ những ngày hòa bình để sản xuất và xây dựng kinh tế , Đường phố tương đối thanh bình và Tôi tranh thủ tối đa thời gian để học thêm , đọc thêm các giáo trình Đại học phục vụ cho nhiệm vụ thiết kế , cũng như học tại chức Tiếng Anh trong trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội , đồng thời học lại phần đầu phát âm tiếng Pháp đã học từ thời Pháp thuộc và ngay sau hòa bình 1954 ở Nam Định . Công tác , học tập  bấy giờ tuy vất vả , hiếm thời gian nhưng là niềm đam mê của chúng tôi trong lòng Hà Nội .

    Nhưng chẳng bao lâu . Tháng 12 năm 1972 , thua trên chiến trường Nam Việt , Mỹ dùng Máy bay chiến lược B52 ném bom tàn phá Thủ Đô , Mỹ nhằm mục tiêu san bằng thủ đô Hà Nội để giành thế thắng trong hội nghị Paris họp giữa Mỹ và 2 ngoại giao đoàn Bắc,Nam , nhưng thực tế đã đảo ngược mong muốn của Mỹ . Tôi không nhớ trong ngày thứ mấy của 12 ngày đêm Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống .

 Hôm đó khoảng đêm về sáng , còi áo động của Thành phố rúc một hồi dài báo động Máy bay bay vào ném bom Hà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ của bộ phận quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi chạy vào hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A  bằng tre phủ dầy lớp đất . Hầm tôi trú được 3người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ không ném xuống rìa Hồ Tây  nơi cơ quan Cục tôi nên tôi buồn ngủ ngồi trong hầm ngủ gật , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực đỏ bầu trời Thăng Long .

 Thình lình , tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời , phần giây sau đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên vũng máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn dính Tên lứa của phi cơ MỸ;  ngay lúc đó cũng vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn , tuy chưa báo yên, tôi nhảy ra khỏi hầm kêu cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng ngắt như bãi chiến trường  , dăm phút sau chúng tôi gọi cấp cứu đưa đồng chí bị thương vào 108 cấp cứu ,tôi đi theo , vừa đi vừa cầm máu để nhanh chóng vào Viện . May thay người trọng thương cứu được , chỉ phải lay đi một con mắ và bó vỡ một bên vai . còn tôi hoàn toàn không dính mảnh nào .

  Trời sáng , chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ còn không đầu 2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn những mảnh vuông như hạt ngô cắn đầy gáy sách của tôi nơi đầugiường và màn chăn thủng lỗ chỗ khắp nơi .

   Qua lần hầm tôi bị đạn  từ đâu đó trong trận khôngkích của Mỹ đợt bắn phà bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích không kể mụ tiêu dưới mặt đất , tôi mới cảm nhận được phần giây đồng hồ.

     Sau hôm bị bom Các phòng đều ăn ở và làm việc trong  hầm chữ A rải rác ; khi bom B52 dữ dội , vào ban đêm , chúng tôi phải trú ẩn trong hầm Bêtông đã xây trước đó  ; nhưng an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại Tiếng máy bay,đạn nổ còn lộng óc khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .

   Sau một tuần lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần giải quyết công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạch quân lực thì đi sơ tán xuống các cơ sỏ , giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .

     Tôi được phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được Cục biệt phái xây dựng ở đó và giúp phòng kỹ thuật và giám đốc trong những khó khăn , vướng mắc về kỹ thuật .

    Nhưng cũng nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chimbay thì cách  Phà Khuyến Lương không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất của nhân dâqn còn nhân dân họ chạy hết ra cánh đồng

    Những ngày bom B52 hà nội tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ; nhưng nhờ chiếc Radio  tự lắp gì đó của chủ nhà nơi tôi ở sơ tán nên ngay sau khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc là tôi lên xe đạp về Cơ quan Cục .

    . Sau những ngày Hiệp định đìnhchiến Paris được ký kết tôi lại tiếp tục về trường  Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà nội để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn tại chức và lớp tiếng Pháp của Hà Nội .

   Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao động trong kho cùngvới việc nghiên cứu quản lý vật tư theo mã  hóa  . .

 Cho nên tôi hay phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc học ngoại ngữ không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không có mặt ở Hà Nội

     Những năm công tác và làm việc ở Hà Nội  tôi chỉ gặp lại dăm bạn đồng đội thân thiết trên phố thủ đô , rồi dần không gặp được . Vả chăng , những ngày sống trong lòng Hà Nội vì bận rộn với việc thiết kế thi công và học , đọc sách , lại còn đạp xe về Nam Định nên liênlạc của tôi với đồng đội khóa một dần mất .


KHÔNG ĐỀ
Những người con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rổi rời Hà Nội đi chiến đấu ,cũng như những người con của Hà Nội từ miền đồng bằng Hồng Hà lân cận về Thăng Long trong sắc phục quân đội Nhân dân V.N qua trọn vẹn cuộc chiến tranh vệ quốc và  giải phóng dân tộc Việt Nam , trong thế  kỷ 21 này người Nam kẻ Bắc , người trên Thủ đô , hết thảy đề tự hào về Thủ đô thân yêu của chúng ta , biết bao vui buồn , kỷ niệm và tình yêu .

   Tôi nhớ lại Nguyễn Huy Tưởng với những Tiểu thuyết “ Sống mãi với Thủ Đô “ và Trong lòng Hà nội “ ___ tiểu thuyết như một anh hùng ca của thế hệ trẻ cha anh chúng ta , những thanh niên thủ đô bất khuất , và như vậy nghĩ về Những người ra đi chiến đấu từ Thủ đô và được về Thủ đô trong Bộ đội Việt Nam đã nối gót được người xưa nhưng trên khắp mọi chiến trường dọc theo mảnh đất việt Nam dài và hẹp với dải Trường Sơn trùng điệp hàng ngàn cây số từng đoạn uồn mình quanh sát biển Việt Nam cũng làm nên nhiều huyền thoại trên rừng dưới biển      .

    Tôi về Thủ Đô từ khi là một Binh nhất Hải quân và rồi sau mấy năm là Trung sỹ Hải quân với những lớp học ngắn ngày cả về Văn hóa ,cả về thể thao, cả về kỹ thuật vài tháng , cả trong hòa bình , cả trong chiến tranh .Hà nội gần 10 năm trong nhiệm vụ Sỹ quan kỹ sư kỹ thuật quân sự thì những kỷ niệm ký ức về công việc , bạn bè không phai cho dù năm tháng đã thay màu sắc : chiến tranh , hòa bình . kinh tế , quân sự trong một thời đại nào cũng thế mà thôi .

     Có lẽ , tình bạn , tình đồng chí , tình thày trò của chúng tôi trong Khóa  đầu của Học viện Kỹ thuật Quân sự hôm nay có đặc thù riêng không khóa nào , trường nào , thời nào có ; bởi đó là tình đồng chí từ khắp miền Bắc trong 3 quân chủng khoác ba lô rời vị trí chiến đấu tập luyện về trường trong niềm tin của Bộ quốc phòng  và đồng đội cùng nhau cùng một tuổi thanh xuân đầy ước mơ hoài bão cống hiến cho đất nước đang hừng hực khí thế cách mạng của nửa sau thế kỷ thứ 20  , tình cảm đồng đội , bạn bè bắt nguồn từ những người lính không có gì ngoài  tình yêu và ước vọng , cho nên vô    đến ngây thơ trước cuộc sống đời thường  .

  Những năm cuối của khóa học tốp cùng tiểu đội tôi ở Vĩnh yên  có “ Ngô Ngọc Vĩnh , Nguyễn Ánh Sáng và Nguyễn Văn Đáo ; tình đồng đội trong những năm đèn sách còn theo tôi trong những năm sống trong lòng Hà Nội.

  Chuyện xem ra chẳng có gì đáng kể , nhưng tôi nghĩ đó là những mẩu đới mất mát và thiệt thòi trong một đất nước như nước ta và với người lính , người sỹ quan quân đội như một hy sinh thầm lặng mà có chiến công cũng dựng lên trên những đau khổ nơi hậu phương trên tay người vợ hiền và bé thơ ..

   Khi ra trường và trước khi đi B Vĩnh cưới Dương Vân Kim con gái thứ trưởng Dương Bạch Liên tôi không dự và cũng không hay , chỉ biết họ yêu nhau khi tôi và Vĩnh cùng đóng quân ở Văn Tiến , trong một cái buồng đầu trái chỉ vừa đủ cho 2 phản cá nhân tôi và Vĩnh để cùng nhau đèn sách , có khi cùng về Hà nội và chúng tôi qua nhà Vân Kim ở 67 Nguyễn Thái Học .

  Năm 1971  hoặc đầu 1972 gì đó . Kim sinh con trai đầu lòng khi Vĩnh đang trong chiến trường Nam bộ , tôi không biết ở đâu . Một chủ nhật tôi đến thăm Kim và bé con Vĩnh thì thật mừng vì bé giống Vĩnh hơn một tượng do một nghệ sỹ ưu tú tạc cho .

  Tưởng như sẽ là tốt đẹp và hạnh phúc với một cháu ngoại của một Thứ trưởng thứ nhất ; nhưng thực tế phũ phàng đã đảo ngược niềm hạnh phúc kia .

   Chừng hơn 4 tháng sau cũng một ngày chủ nhật tôi ghé qua 67 Nguyễn Thái Học để thăm Bé con Vĩnh ; nhưng thật không ngờ , chỉ vì thiếu sữa mẹ , phải dung sữa bò cho ăn ngoài , nhưng sự vô trách nhiệm của bảo mẫu nhà trẻ , vì khi đó Kim phải đi làm trong xí nghiệp Ô-Tô 1 . 5 Hà Nội . Bé bị đi ỉa mất nước và lìa khỏi cõi trần trong khi người thân sinh xa biền biệt nơi quân ngũ .

    Nhưng số phận con người còn nghiệt ngã hơn với Vĩnh và Kim .

    Một sáng đầu tuần trước khi đến giờ làm việc , chúng tôi ngồi chuyện phiếm ,uống trà bốn hào rưỡi – chè nước văn phòng thuở ấy ; nói chuyện về bạn bè tôi , Đào Kim Chi Kỹ sư ô tô bách khoa khóa 7 , nhân vì nhắc đến hôm tôi đến thăm nhà Vĩnh Kim khi đã chuyển về Lê Phụng Hiểu – Hà Nội , Chi nói : Cháu nộiÔng Ngộ chết rồi còn đâu ! , Chi biết , vì Chi không ở trong doanh trại cơ quan mà vì được ở tại gia với bố là Vụ Trưởng ở bộ Tài chính cùng bộ mà bố Vĩnh là VụTrưởng  . Nghe tin ấy tôi bán tín bán nghi , ngay sau đó , chủ nhật nghỉ , tôi đến Lê Phụng Hiểu và Kim nói rằng cháu cũng bị mất nước và bỏ đi .  Thật bất ngờ , vài tháng trước đó tôi đến chơi Bé đã đâu 1 năm tuổi trắng và đẹp .

     Trước khi về ở Lê Phụng Hiểu ,Tôi có đến chơi với Vĩnh ở Nguyễn Thái Học khi vừa ở đơn vị xa về Hà Nội ; từ đó đến nay chúng tôi bặt tin do tôi ít có dịp đi ra phố Hà nội mà tập trung làm việc trong cơ quan và ngày nghỉ lại phải đạp xe về Nam Định thăm nom vợ con và mẹ già , rồi tồi về     Nam Định khi mấy cơ quan bộ Ngoại thương và Ty Lao động Hà nội không chắc cho cả vợ con tôi về Hà Nội và rồi về hẳn Nam Định sau khi Tổng cục kỹ thuật xem xét và đồng ý cho chuyển ngành sau khi hai anh điều phối Cán bộ đồng cấp với tôi , một   phụ trách cán bộ khu vực Hà Nội , một phụ trách Cán bộ Khoa học kỹ thuật , thuyết phục tôi không chuyển ngành , Tôi thấy trong việc điều động đi nơi khác là một điều  động đầy tính cá nhân, tiêu cực chất đầy nên dự tính xin về  nơi khác Tổng cục kỹ thuật , nhưng rồi tôi có quyết định của Tổng cục – Ban chính sách  đồng ý , tôi về hẳn Nam Định sau 4 năm đeo quân hàm trung úy ở Hà Nội .

Mu chuyn bên l

 Mùa kỳ nghỉ hết  học kỳ  là mùa nghỉ ngơi của sinh viên các trường Đại học , nhưng chúng tôi , những học viên trường đại học kỹ thuật quân sự hầu như không được nghỉ , cũng chỉ như là những ngày sau chiến dịch mà thôi . Bởi vậy , hầu  hết đều được bố trí đi lao động ,hoặc là lo cho cơ sở vật chất năm học tiếp theo , hoặc dã ngoại  đi giúp nhân dân  , cũng có thể đi phục vụ ở các đơn vị bảo vệ miền Bắc trên các trận địa ; chúng tôi có số ít được lưu lại ở nhà để thực tập gọi là “nghiên cứu “ .

  Xóm làng yên tĩnh , đồng đội đi lao động , dã ngoại đâu đó , chừng dăm bảy người chúng tôi được bộ môn Sức Bền Vật liệu , bấy giờ do Trung uý -- Giảng viên tổ trưởng bộ môn sức bền vật liệu __ Nguyễn Khoa Thịnh  tập họp để hướng dẫn học, kết hợp với nghiên cứu về một số vấn đề trong Sức bên vật liệi như : Ứng suất trong  các bình vỏ mỏng, Óng dầy và Trạng tyhái Ưngsuất khối không có trong các chương trình của bất kỳ trường đại học nào bấy giờ ;trong nhóm gọi là nghiên cứu đó có Lê Kinh Tuyến , Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Đình Năng , Lê Công Sơn ,…( sau này chúng tôi được phân công học ngành Đạn , Ô tô- tăng xích và Trạm nguồn điện ) được chỉ định và mỗi người một đề tài khác nhau  và có cũng chỉ những phần mở đầu cho một đề tài nghiên cứu hoàn thiện mà thôi , nhưng nó đòi hỏi phải tập trung tư tưởng và trí tuệ, học thêm cái gọi là “vạn sự khởi đầu nan “ mà “vạn sự khởi đầu nan “ thì chính Kar-Mark cũng phải thừa nhận như trong những lời đầu của cuốn “TƯ BẢN “ của Ông , có thể không là nan giải .

  Bắt đầu tôi được phân công chứng minh Biểu thức toán học cuối cùng của Trạng thái Ưng suất khối biểu diễn trên Vòng tròn MORH mà mhư anh Thịnh nói : không có cuốn sách hoặc tài liệu nào có trong tay đã chứng minh nó .( trong chương trình học , chúng tôi cũng không học và không có bài tập về trạng thái ứng suất này , trên một số giáo trình sức bền cũng không đề cập đền nó và hầu hết các sáh bài tập cũng không có bài tập về nó , tôi về Hà nội chỉ tìm được ở hiệu sách khoa học kỹ thuật một cuốn bài tập sức bền bằng tiếng Nga có Viết Biểu thức Toán cho trạng thái ứng đó để làm bài tập mà thôi .

   Bấy giờ , quần áo mùa hè của chúng tôi không được đẹp như hôm nay mà nó xuyềnh xoàng đến nhọ nhem , bởi đúng lúc quân đội ta gặp khó khăn nhất trong quân nhu , hậu cần , nhất là lại không đeo quân hàm học viên khi về Hà Nội dưới trời hè của Thủ đô .

  Chúng tôi , quân phục không quân hàm  đội mũ  không có quân hiệu như những anh nhà quê ra tỉnh .

  Tôi và Lê Kinh Tuyến vào hiệu sách Ngoại văn  khoa học kỹ thuật mà trên quầy sách , các tầng sách hầu như chỉ có Sách tiếng Nga , Tôi chỉ và nói cô bán sách cũng còn trẻ như chúng tôi lấy một quyển trên  tầng giá sách có bìa cứng và dày ; Cô ấy bảo chúng tôi :

__   Quyển ấy nhiều chữ lắm đấy các anh ạ !

  Tuyến vốn là một tay mà tôi thường vui coi như con cháu của Đại văn hào hài ,viết truyện cho thanh thiếu niên và nhi đồng --Truyện “trẻ con “ _An-Đec-Xen , Tuyến bèn chỉ tay vaò một cuốn sách trước mặt có mấy chữ cái và nói :

  __Vậy thì cho tôi xem quyển sách có thật đại to  kia kìa .

  Cô hàng sách lẳng lặng không nói gì nữa mà với tay lấy cho chúng tôi cuốn sách tiếng /nga muốn xem hoặc mua .

  Đi trên ngã tư Tràng Tiền hai chúng tôi cuòi vui vì câu nói hài mà xúc tích của Tuyến .

 “Đối xứng “

             Trong nhưng ngày vừa học vừa nghiên cứu ngắn ngủi sau chính khoá , dưới trời bom đạnmiền trung  ,nam bộ  , giữa những lúc nghỉ khi Anh Thịnh xuốn chỗ chúng tôi tập trung học , ngồi giải lao trò chuyện thân tình như những an em , đồng chí đi trước ; Anh Thịnh nói chuyện với chúng tôi về “Tính Đối xứng” trong khoa học  , và tôi nhớ mãi chuyện anh kể :

  đại ý là ; có một lần , một nhà khoa học nghiên cứu về Nguyên tử và Năng lượng Nguyên tử sang làm việc với các nhà khoa học V. N trong lĩnh vực này, nói chuyện ngoài lề và hỏi nhà khoa học của ta((hình như ông Nguyễn ĐiìnhTứ)) đang nghiên cứu về tính đối xứng ;

    bỗng nhiên Nhà khoa học Mỹ hỏi :

__Ông là người nghiên cứu về “Đối xứng “

Ông thấy thế nào về sự đối xứng khi mỹ xuống thang trong ném phá hoại miền Bắc mà miền Bắc không rút quân khỏi miền Nam ???

  Nhà khoa học của ta trả lời :

 __Ông cũng là người nghiên cứu về đối xứng  , tôi cũng là người nghiên cứu về đối xứng, vậy hẳn ông biết rõ ; Tiền đề không đối xứng, thì kết quả cũng không thể đối xứng .

   Và nhà khoa học Mỹ không thể nói gì thêm ! ?

   Mãi sau này khi đã nghỉ hưu lâu lắm , xem trên truyền hình VTV tôi mới biết giám đốc hoc viện kỹ thuật quân sự V N là  Tướng Nguyễn Khoa Thinh năm nào , khi đó anh đã béo hơn hồi còn Trung uý .

                Có lẽ như anh Nghiêm Sỹ Chúng nói đúng : chuyện vụn vặt nhưng không quên và gợi lại một thời đáng nhớ .
       Ct C Thành Nam-Namdinh City 

 Sunday, April 21, 2013

       

 


    





                                


TÌNH

 
Có người tha thiết một tình yêu

Đắm đuối từng đêm dầy sương lạnh

Giữa lúc hoàng hôn với ráng chiều

Mối tình đằm thắm có bao nhiêu

 

Ai đi trong nắng chiều oi ả

Khóc lá thu bay khóc lụa điều

Dải yếm bắc cầu cho ai nhỉ

Để tình trao ngả bước liêu siêu

 

Những chiều nắng nhạt hoa phượng thắm

Có một Chim khuyên lạc mất đàn

Vỗ cánh bay đi ngang trời lửng

Hoàng hôn phố nhỏ gió tràn loang

 

Chim ơi sao lỡ rời  cánh phượng

Cái nắng chang chang đã nhạt rồi 

Ngày chậm chim ơi trời man mác 

Chiều buồn có mỏi cánh xa xôi  ././/

    ******                                                                   

       Viết ở Nam Định august 2013

    ^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^ccount Options
Nhập văn bản hoặc địa chỉ trang web hoặc dịch tài liệu.
ITUATION

Some one passionate love
Amorously each cold foggy night
Between dusk with sunset
Love how much loving

Who went in the sweltering afternoon sun
Crying crying silk autumn leaves flying things
Strip affection for anyone right bridge
To communicate the steps leaning super bureaucracy

The bright afternoon sun phoenix flower petal
There is a lost Bird advises men
Flapping fly across the sky suspended
Sunset small town wind spill spread

Birds left wing phoenix miss my star
The scorching was pale and
On my slow sun bird vague
Sad with fatigue afternoon off distant. /. / /
******
Writing in Nam Dinh august 2013

fc1ddef5-d705-46da-b731-6af053c7af96
WC:fc1ddef5-d705-46da-b731-6af053c7af96СИТУАЦИЯ

СИТУАЦИЯ
http://translate.google.com.vn/?sl=vi&tl=en
Кто-то страстной любви
Любовно каждую холодную туманную ночь
Между сумерках с закат
Любовь, как много любящих

Кто пошел в душной полуденным солнцем
Плач Плач шелка осенних листьев летающие существа
Снимите привязанность к любому мосту право
Чтобы общаться шаги опираясь супер бюрократии

Яркое полуденное солнце феникс цветочного лепестка
Существует потерял Птица советует мужчинам
Хлопающие летать по небу приостановлено
Закат маленьком городке ветра распространения разлива

Птицы левое крыло феникса скучаю по своей звезды
Палящим было бледным и
На мой медленный ВС птица расплывчатые
Грустно от усталости днем ​​от далеких. /. / /
******
Запись в Намдине августа 2013
 

SITUATION


Quelqu'un amour passionné
Amoureusement chaque nuit de brouillard froid
Entre crépuscule avec le coucher du soleil
Amour combien aimer

Qui est allé sous le soleil torride de l'après-midi
PLEURER automne de soie laisse les choses volantes
Strip affection pour le pont de droit de toute personne
Pour connaître les étapes penchant super-bureaucratie

L'après-midi lumineux phoenix soleil pétale de fleur
Il ya un oiseau perdu conseille les hommes
Battant mouche dans le ciel suspendu
Sunset petite ville vent propagation du déversement

Oiseaux aile gauche phoenix rater mon étoile
La torride était pâle et
Sur mon lente soleil oiseau vague
Sad avec la fatigue après-midi hors lointain. /. / /
******
Écrivant dans Nam Dinh août 2013 

Dịch ra ESPẺANTO-__Quốc tế ngữ

SITUACIO
Iu pasia amo
Amorously ĉiu malvarma nebula nokto
Inter la krepusko kun sunsubiro
Amo kiom ami

Kiuj iris en la sofocante posttagmeza suno
Crying kriante silko aŭtuno lasas flugi aĵoj
Senvestigi amon por iu ajn rajtas ponto
Por komuniki la paŝojn kliniĝante super burokratismo

La hela posttagmeza suno fenikso floro petalo
Estas perdis Birdo konsilas viroj
Aleteo muŝo trans la ĉielo nuligita
Sunsubiro urbeto vento verŝas disvastiĝo

Birdoj lasis ala fenikso miss mia stelo
La abrasador estis pala kaj
Sur mia malrapida suno birdo pigra
Malĝoja kun laciĝo posttagmeze ekstere malproksima. /. / /
******
Skribante en Nam Dinh augusto 2013


 

 

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

TRANG LÝ LUẬN ÂM NHẠC

bamboonguen07@gmail.com,tranthuhong54@gmail.com,muathulabaycd@yahoo.com.vn

  • TRANG LÝ LUẬN ÂM NHẠC

    NHỮNG NÉT CƠ BẢN TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC
    VỚI HỆ THỐNG HỢP ÂM CƠ BẢN
    ****************************************
    ( Bài viết từ tài liệu tham khảo : Tập guitả theo Tai nghe -- nhà xuất bản CCCP -- Bản tiếng Nga và bản tiếng Việt )
    ________________________________________

    Trong các ca khúc hiện nay thường được sánh tác theo một nguyên tắc nhất định cùng với cảm xúc của tác giả . . Bài ca được phân tích , phân chia và hát lên theo từng câu , từng đoạn ; đó thuộc về cú pháp của bài hát . Vấn đề có tính chất cần thiết chio một bài hát đạt tiêu chuẩn về âm nhạc chính là Hệ thống hợp âm nền móng của bài hát do tác giả áp dụng cho mó . .Tuy nhiên đó là một điều kiện cần thiết tồn tại của một tác phẩm âm nhạc ; cho nên , Nó phải được khảo sát một cách nghiêm túc trên cơ sở hiểu biết về cấu trúc câu nhạc hiện đạị cũng như truyền thóng dân tộc , dân gian .
    Các phần sau đây xin trình bầy những vấn đề cơ bản có tính lý luận và lý thuyết khi tìm hiểu và sáng tác một ca khúc ngắn là những bài hát trữ tình và những bài hát thuộc dòng nhạc nhẹ hiện đại nhằm góp một vài ý kiến để gia tăng tri thức cho những ai muốn am hiểu và yêu âm nhạc .

    Khái niệm Cơ bản và Hệ Thống Hợp Âm của Bài hát
    Một bài hát được xây dựng và sáng tác theo một Hệ thống hợp âm cơ bản làm nền tảng ; đó là một chuỗi các hợp âm liên tiếp trong câu nhạc . chuỗi này thuộc vào hệ thống Lô-gic của giai điệu chính bài ca . Có thể nói , mỗi tiết nhạc là một hợp âm hoặc một hợp âm giành cho vài ba tiết nhạc . một câu nhạc gồm nhiều tiết nhạc , số nhiều lớn hơn 3 hoặc 4 , còn chuỗi hợp âm có thể gồm chỉ ở tối thiểu vài hợp âm cũng đủ . Vấn đề là ở chỗ :chuỗi saocho đơn giản , đạt hiệu quả âm nhạc gây cảm xúc , ấn tượng lành mạnh , cho người nghe .. Mặt khác cần ca khúc vừa hay vừa có tính học vấn cao , học thuật rất mực nghệ thuật .
    Trong sáng tác và chơi đàn , với một chuỗi hợp âm liên tiếp trong giai điệu , cần lưu ý đến các âm ổn định và sự vươn tới trong quá trình vận động của các âm không ổn định đến tới các hợp âm ổn định cho nó .
    ví dụ ; Một giọng ĐooTrưởng __C không thểv kết thúc ở nốt Xi __H mà phải kết thúc ở Đô --C ( E, hoặc G ) Tại sao lại phải như vậy ?
    Bởi vì , các âm không ổn định nhập vào các hợp âm 7 ( H - trong C là âm bậc VII )và hơn nữa , nó vào các hợp âm phức tạp có các bậc hóa cao đang vươn tới những hợp âm ổn định , điều này làm cho ta nghe thấy sự phát triển vươn tới liên tục của dòng âm thanh , do vậy , tới một mức độ phát triển nào đó đòi hỏi xuất hiện một hợp âm mới .
    Một ví dụ khác là ;
    Các hợp âm nhập vào hợp âm G7 ( Xon 7----G+ H+ D+ F) đang vươn tới các các âm của hợp âm 3 Đô trưởng chứ không phải ngược lại . Tức là không bao giờ hợp âm 3 Đô trưởng vận động để vươn tới hợp âm G7 .
    . Bởi vì , ta đã biết ,
    Hợp âm C gồm Đo+ Mi+ xon (C-E-G)tức là gồm các bậc I --- Chủ âm , Bậc III---Trung âm và Bậc V ---át âm .
    Giai điệu : C-D-E-f-G-A-H- -C
    Bậc I- II-- III--IV--V--VI-- VII .
    Và biết rằng , các bậc I , III , V là các bậc ổn định , cũng có nghĩa là các bậc này trong giai điệu nào cũng ổn định cho điệu tính ( Ổn địnhh là xác định điệu tính ) . trong khi đó các bậc khác như bậc II --Thượng Chủ âm,Bậc IV -- Hạ Át âm , Bậc VI thượng Át âm và Âm Cảm Bậc VII là những âm thiếu ổn định ( vì nó khó có thể đặc trưng cho giai điệu chính ) ; tức là các bậc II.,IV VI VI này nhập vào một số hợp âm làm thành các hòa âm của âm thanh với các âm vực khác nhau nmhưng không ổn định xác định vững chắc cho những điêu tính khác nhau của giọng điệu . Nhất là các âm Bậc VII __Cảm Âm là không ổn định hơn cả .
    cho nên đi đến vấn đề , kết thúc một câu nhạc , kết một đoạn nhạc , kết một bài nhạc ;nốt nhạc nào kết không thể tùy tiện . Một câu nhạc kết ở chủ âm cũng không phải là hay , vì như thế làm cho bài ca trở nên tủn mủn ---bài ca nhát gừng , hay như hay nói là "hưa đi đã về " , nhưng nếu kết ở nốt bất kỳ rơi vào các bậc không ổn đình thì đã là khong thành câu nhạc vì nó không xá định điệu tính trong giọng điệu bài hát . Đó chính là vấn đề Đạt bài hát hoặc phân tích bài hát thành từng câu nhạc , đoạn nhạc trong toàn bài ca . . Để kết thúc mo9ọt câu nhạc , đoạn nhạc , bài nhạc , chúng ta có các cách kết thúc như nêu tiếp theo dưới đây .

    CÁC HÌNH THỨC KÉT THÚC CÂU NHẠC .
    Trong mục này sẽ trình bày cáccác hình thức , nhạc điệu kết thúc câu nhạc ; như vậy sẽ là một nội dung sát ngay khái niệm về sự vận động của các âm thiếu ổn định đến các hợp âm và các hợp âm ổn định .

    Trong nhạc - Blud ; trong nhạc Beatles ,, và trong nhác Rock and Roll .


  • BẾN CÔ LÊU ___ AKAY AKAY


    BẾN CÔ LIÊU

    Ngồi chờ bên bến cô liêu
    Chẳng có đò chiều nhẹ mái qua sông
    Hoàng hôn đôi sắc trên đồng
    Đâu người chèo lái thuyền không mái chèo
    Bên đê gà gáy tre reo
    Chốn này người đợinhịp chèo mênh mông

    Chắc cô lái ấy tìm chồng
    Bỏ thuyền bỏ bến bỏ sông bỏ chèo
    Bỏ con sóng nhỏ từng reo
    Quên người tình cũ từng trông tay chèo
    Tôi ngồi lặng ngắm hoa bèo
    Nhìn đôi con bướm bay theo hương tình
    Rằng đôi cánh bướm thật xinh
    Mà hoàng hôn vội khép mình vào đêm
    Tôi mong cô bước êm đềm
    Bên người nào ấy trong đêm sao mờ

    Trời ơi ! Như một giấc mơ
    Đợi đò bến vắng chiều mờ trăng buông
    Tôi mong cô thật tròn vuông
    Chớ đừng nuối tiếc trăng suông đò chiều
    Chuyến đò chở nặng bao nhiêu
    Chuyện trình đằm thắm nhịp chiều sông đêm
    Cô tìm trong mái ấm êm
    Tôi chờ gió lạnh để thêm nhờ người ././/

    ****************N.ĐMay 201 3
    Đỗ Nguyễn Thiện Nam ***********************************

    A KAY__ AKAY.

    A kay , Akay ơi !
    Trăng vàng mọc giữa biển khơi
    Má hồng ráng đỏ bầu tròi Akay
    Lung lay võng lắc lung lay
    Biển ru con sóng gió lay cát vàng

    Long lanh mắt sáng ngỡ ngàng
    Biển kia sóng cả ,âm vang ru hời
    Trao nghiêng cánh võng chơi vơi
    Tình đời một khúc ru hời AKay

    Trăm con sóng nhỏ ngoài khơi
    Đến bờ cát phẳng đánh rơi trăng tà
    À ơi tiếng hát xa xa
    À ơi trăng có biết nhà AKay không

    Xa trông biển rộn sóng cồn
    Mong AKay lớn mênh mông giọt đời
    Biển triều sóng gió đầy vơi
    Tìm trong ước vọng giọt đời AKay >/.//