Hành trình xuyên Việt
Và cuộc Tình lỡ dở .
“Ví không có cảnh đông tàn
Thì dâu có cảnh huy hoàng ngày xuân “
Dù thế nào , cũng
cũng không thể phủ nhận sự phát triển và tiến lên của Việt Nam chúng ta ngày
hôm nay , tôi đi một vòng từ Nam định – Hà nội –Sài gòn – Hải phòng –Hà nội
---Nam Định ,những chuyến bay , những chặng đường xe con không là ngắn , chỉ
khi ngồi lại mà ngẫm nghĩ mới thấy chặng đường và thời gian của hôm nay và hơn
45 nămqua như một huyền thoại bởi vì khó có thể tin khi mà ai đó chỉ biết hôm
nay mà không cần biết những ngày đã qua .
Trên các đô thị
bóng dáng chiếc xe đạp của những năm cuối thập kỷ trước ngày càng thưa thơt cho
đến gần thành con số 0 trên đô thành , những cuộc đau xe đạp xuyên việt với
những chặng đường trên dưới trăm Km , với áo vàng áo xanh từng chặng , làm tôi
nhớ lại thời chiến trong Trường Đại học
Kỹ thuật quân sự V. N của tôi và đồng đội với sức trẻ rong ruổi trên nửa phần
tổ quốc với chiếc Ba lô gói vuông vài bộ quần áo cùng một đống sách vở khoa học
kỹ thuật như một vũ khí trên mặt trận không tiếng sung và cáchxa , xa lắm chiến
địa bom đạn từng ngày .
Từ ven bờ Hạ
long tôi về bãi phúc xá khi có lệnh “đi học “ , chỉ sau 4 giờ đi xe vận tải và
tàu tuần la hải quân bấy giờ chúng tôi đã về hải phòng cũng đã là một điều đáng
nhớ của dăm bảy anhem chúng tôi từ Quảng Ninh đi học , nhưng những cuộc hành
quân đó còn “mang tính quân sự “ cũng như những cuộc hành quân chuyển trường
lớp liên tiếp sau học kỳ , sau năm học mà chúng tôi xem như lẽ thường ,
không nhiều ấn tượng như lần hành quân
chuyển trường lên Bác Mục –Hàm Yên—Tuyên Quang và về Vĩnh Yên .
Khi chúng tôi
học xong năm thứ nhất dưới đồng bằng , sơ tán trong vùng dân xa hà nội , đại
đội 213 ở Thục Cầu Hưng yên , khi đó , chúng tôi được biết : Điểm cao quan sát
trên đất bạn Lào đã bị đánh chiếm , chưa giành lại được , khả năng quan sát và
dẫn đường bom xuống biền bắc V.N có thể sẽ được mở rộngvà như thế đồng bằng bắc
bộ an toàn cho chúng tôi có thể không có ; chúng tôi được lệnh chuyển trường
lên vùng cao , vùng chiến khu năm xưa .
Khi rời khỏi
Thục Cầu –Hưng Yên , chúng tôi chuyển lên Bắc Mục –Hàm Yên Tuyên Quang . Từ Thị
xã Tuyên Quang , chúng tôi hành quân đêm đến tảng sáng thìđến khu đồi một bản
người Tày và đóng quân lúc đầu ở gầm nhà sàn để dựng toàn bộ nhà ngủ , hội
trường ,nhà ăn ,nhà bếp bằng tre nứa
trong vài tháng trước khi vào năm học tiếp theo , chính trong thời gian này đã
làm cho nhiều ânh em chúng tôi thành những công nhân lâm nghiệp khaithácluồng
nứavới những công việc khai thác , đóng bè và vận chuyển trên khe , suối về đồi
thung lũng và đồi hoang đang khẩn trương dựng nhà tre nứa . Và có lẽ cũng là
sau này đồng đội Tôi điB ngắn B dài thì những con vắt rừng Trường Sơn cũng rắc rối như con muỗi đồng bằng mà thôi .
Trên từng quả
đồi Đất Hàm Yên đã mọc lên những gian nhà tre nứa lớn bé ẩn dưới những lùm cây
cao , hội trường lớp học , nhà ở , nhà ăn đầy đủ , khu đồi vắng lặng trở thành
một căn cứ tre nứa sáng đèn dầu hỏa trong nhưng khi màn đêm buông xuống cho tới
canh khuya trước khi đồi núi chìm vào không gian tĩnh lặng của Biên cương . Nhưng
rồi , chuẩn bị vào khai giảng năm học mới thì chúng tôi được lệnh tháo rỡ toàn
bộ nhà ăn , nhà bếp , hội trường lớp học
và đóng bè . Về xuôi . Khi phố nhỏ huyện Hàm Yên vừa thấp thoáng màu áo
anh quân hàm học viên thì đẫ lại vắngvì
ngày đêm rỡ nhà , đóng gói của chúng tôi cho một chuyến xuôi dòng song hồng về
Bến Châu Phan ( Vĩnh Yên ) . Và những cột kèo luồng tre xuôi theo dòng suối nơi
cuối nguồn đến bờ Sông Lô về xuôi . Đólà những vất vả , gian khổ không kém gì
khi mới lên , lại một lần nữa đôi vai trần người học viên Kỹ sư quân sự cùng
những cột luồng tre nứa đang còn màu xanh diệp lục thêm gắn bó .
Lòng vui mừng và
phấn khởi vì lại được về Xuôi gần Thủ Đô
làm chúng tôi trở nên hăng hái và những tay chống bè luồn láchkhe suối
cũng như khéo léo hơn , vả chăng cũng còn vì gần hơn nhữngngười thân yêu của
mình dưới xuôi
Chúng tôi về xuôi
và được biết khi đó chúng ta đã chiếm lại được Điểm Cao quan sát bên Nước Bạn
Lào .
Chúng tôi được
lệnh về dựng cơ sở ở Văn Tiến –Hương Canh Vĩnh Yên .Banchỉ huy đại đội biết tôi
có người yêu ở Nam Đinh nên bố trí tôi đi Tiền trạm cùng với haingười nữa là Anh Lương Văn Cao về
tranh thủ thăm gia đình ở Đông Anh , và Phạm Văn Síu cũng về Hà Nội thăm người
yêu và nhất là Mẹ , bấy giờ sống ở
HàNộimột mình vì Bố Síu là Liệt Sỹ . , Síu
từ Cáp Nhĩ Tân Trung Quốc về học tiếp
khi ta rút về nước lưu học sinh trong cái gọi là “Cách mạng Văn hóa “ của họ .
.
Có thể nói ,
lúc bấy giờ , vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước thì những cuộc hành quân
, những chuyến đi như thế còn khó khăn và vất vả hơn nhiều so với những hành
trình xuyên Việt hiện nay không những : Đường quá dài so cới phương tiện giao
thông , đường xa , địa hình thay đổi và còn có cả lo ẩn tránh bom đạn phá hoại
giao thông , tìm diệt quân đội mà bọn Mỹ gọi là Việt Cộng ngay trên Miền Bắc
V.N . chúng ta
Đi Tiền trạm ,
chúng tôi có 3 người . Tôi được Đại đội cho mượn chiếc xe đạp của Tiếp phẩm ,
Xe dùngđi chợ tiếp phẩm cho nhà bếp hàngngày nên cũ và không nhẹ nhàng gì ,
đường đồi núi , có đoạn không dốc cũng chỉ đạp được chừng 12-13 km /h , còn
đoạn xuống dốc cũng dè chừng vì phanh yếu , xe cọc cạnh .
Anh Cao có chiếc
xe Thống nhất cũ mang theo ,còn síu thì lên Hàm yên mang theo chiếc DIAMAN của
Đức . Xe đạp của chúng tôi đều là những xe cũ đã từng đi nhiều cây số , mà xăm
lốp cũng đã phải vá víu , không có điều kiện để thay mới .
Cuộc hành quân
bằng Xe đạp của chúng tôi về xuôi bấy giò nếu nhưđược chuẩn bị kỹ càng cho đi
đường dài , đồi núi thì cũng chẳng có gì đáng nói . Nhưng , chiếc xe tiếp phẩm
tôi đạp cứ như một con la già , còn xe của Síu , tuy là loại xe đi trên phố Hà
Nội bấy giớ thì vài tháng cũng phải căng lại Vành cho trỏn . Síu lên xe chưa
được bao lâu thì xe lốp xe bị thủng “châm kim “ ở đâu đó , trên đường đi , đường
vắng ngắt , phụ tùng mang theo chỉ cái bơm xe đạp , và như thế . chừng Vài Km
lại phải xuống xe bơm hơi .
Xe anh Cao cũng không phải xe tốt và cũng chỉ chuẩn bị
đường dài --- qua loa . ,trong khi Anh cao Lớn tuổi hơn chúng tôi , vốn trước
khi về Trường ,Anh Lái xecho TướngVăn Tiến Dũng nên chẳng phải một người đi xe
đạp khỏe .
Tuy nhiên Tôi và
Síu đã từng là Vận động viên thể thao điền kinh và bong đá , nhưng với những
chiếc xe hành quân bất đắc dĩ ấy danhd
chấp nhận .
Đường dài từ
miền cao , xuồn trung du , “ con ngứa sắt” với chiếc ba lô vuông hành lý người
lính và tư trang là đống sách vở khoa học kỹ thuật ; hoàn cảnh như vậy , chúng
tôi đuổi nhau suốt dọc đường . Síu , xe nhẹ và lốp bị châm kim , vì ths lên xe
phải đạp hết tốc độ mà đi , khi lốp xẹp thì dừng xe và
chở tôi đi giữa ,gặp nhau hai thgằng cùng bơm xe của Síu và đợi anh Cao
đến thì xuất phát một đoạn đường tiếp thao … Cứ thế , chúng tôi đuổinhauvà đợinhautrên
suốt dọc đường về Hà nôi . Đến Cầu Việt Trì đang làm dở chưa thông được xe lửa đã
qua nửa đêm , trời bắt đầu về sáng , chúng tôi vào chỗ mấy anh trung quốc bấy
giờ đang làm cầu xin nước uống , nhưng họ ngi chúng tôi là gián điệp khi tôi nói vài câu xin nước , rồi Síu hỏi
xin tiếp . Anh ta nghi là gián điệp lại còn biết cả tiếng Trung Quốc (Bởi Tôi
cũng đã học 2 năm tiếng trung , còn Síu Thì Đã Học dở Đại Học quân sự ở Cáp Nhũ
Tân Về ) . Chúng tôi đành bơm xe và lên
đườngvề đến Bạch Hạc chờ tàu đêm về Hà Nội .
Về Hà nội rồi Síu
Còn phải đạp đến nơi sơ tán . còn tôi . không chờ tàu Nam Định , tiếp tục xuôi
theo quốc lộ1 rồi rẽ sang đường 21 về thành phốnamđịnh và xuôi theo phìa Đền Trần
Nam Định Về nơi mẹ và Em gái tôi đang sơ tán , Cách Nam Định chừn 6-7 km .
Tốp hành quân
đi tiền trạm của C213 khi về xuôi từ Hàm yên , như đã nói có chuyện riêng tư
kèm theo đều là chuyện tình cảm gia đình Và tình yêu trong chiến tranh của
những người lính . Chắc chắn gia đình anh Cao phải vui mưng thế nào khi chiếc
xe lấp bụi đườn dựng trước sân nhà. Còn Síu , tôi không hiểu thế nào , bởi vì
chúng tôi khi đó đang ở các tiểu đội khácnhau , còn chưa chia ngành học , Tôi
trung đội phó kiêm chức và Tiểu đội 18 .
Về đễn nơi sơ
tán ở Nam Đinh , tôi không viết thư trước vì đi tiền trạm kết hợp cho về nhà là
đột xuất , nên khi tôi về nhà nơi sơ tán , vừa
ra khỏi ngõ để định đi sửa quần áo lính
cho đẹp vì năm ấy bộ quân phục lính Triều tiên lung thùng , tì vừa gặp
cô người yêu đạp xe từ nơi mẹ và em tôi
sơ tán .
Một thời bom
đạn , tôi chỉ gặp người yêu khi em còn chưa đi làm và khi gặp lần đầu tiên sau
mấy năm xa cách , như người ta nói , tôi ngượng không có chỗ chui xuống đất .
Em hỏi tôi chỉ trả lời nhát gừng , và nói
“ Tổi chỉ ở nhà
được 1 ngày mai , rồi phải đạp xe đi sớm , không thể lui lại 1 ngày “
Em bảo
“ chiều nay em
phải về nơi soq tán để sang ngày mai họp Đại hội Đoàn Toàn thành phố , không
thể về được “.
Chúng tôi tạm
biệt và theo kế hoạch phải có mặt ở địa
điểm mới và nhận chỗ ở cho Trung đội đến sau ; Tôi không thể chậm trễ và đường
dài còn chừng 150 km trên chiếc xe đạp “la giá “ . Chiến tranh , nhiệm vụ , tôi bùi ngùi nguyên
hành trang từ Hàm Yên lại ngược miền trung du , và sau đại hội đoàn bế mạc ,Em
chỉ còn biết .. khóc . Và khi đó chúng
tôi đang với bè từ bến Châu Phan , chuển
về văn Tiến dướn trời hè oi bức miền trung du mà người dân thấu chúng tôi lam
lũ , vất vả , như những lính B quay , và không hiểu vì sao lính mà toàn là sách
vở . vì vậy , khi đã hiểu , dân ở đây thương và tin tưởng chúng tôi , tạo nên
một tình quân dân khó quên trong những ngày trọ học trong nhân dân .
***************** Viết ở Nam
Định
Đại tá và Sỹ Quan Trung cấp Quân ĐộiN D VN – Khóa1 C213Đại học K T Q S V V
Tiến sỹ Nguyễn Nước , Kỹ sư Quân sự Nguyễn Tuấn , Đỗ Đăng Đích
Ảnh chụp tại nhà N Nươc Sài Gòn 2012 november
